Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 20 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Văn Vợi.
  2. Bà Phạm Thị Kim Quy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và tại Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn S, sinh ngày 21/5/2004 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 20/01/2021, bị Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng (chấp hành xong ngày 17/11/2021); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến nay. Có mặt.
  2. Nguyễn Trọng H, sinh ngày 03/5/2003 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng C1 (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Trần Văn H1, sinh năm 2003; nơi cư trú: Xóm V, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Cháu Đinh Văn T1, sinh ngày 23/01/2008; nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Đại diện hợp pháp của cháu Đinh Văn T1: Ông Đinh Văn Q, sinh năm 1974 và bà Đinh Thị H2, sinh năm 1985; nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

  1. Anh Hồ Viết N, sinh ngày 16/7/2007; Nơi cư trú: Khối M, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Anh Phan Công T2, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 2022, Lê Văn S bắt đầu sử dụng thảo mộc khô dạng sợi (thường gọi là tobaco hoặc cỏ). S biết bên trong thảo mộc khô dạng sợi mà S sử dụng có chất ma tuý nên đến khoảng tháng 5/2024, S đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng lên mạng xã hội facebook có tên đăng nhập là “Lê Văn S” để tìm hiểu và đặt mua thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý để về sử dụng và bán kiếm lời. S liên hệ với một người có tên “Văn Lâm” trên mạng xã hội facebook và được người này báo giá 1.500.000 đồng/lượng (một triệu năm trăm nghìn đồng) nếu mua số lượng ít. Còn nếu mua từ 02 lượng trở lên thì giá 1.000.000 đồng/lượng (một triệu đồng). Ngày 17/12/2024, S liên hệ với người có tên “Văn Lâm” để đặt mua 03 lượng thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý với giá 1.000.000 đồng/lượng (một triệu đồng) và hẹn giao hàng tại khu vực cầu B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, S đi đến khu vực cầu B thì gặp người bán thảo mộc khô có chất ma tuý. Tại đây, người này đưa cho S một túi bóng đen, bên trong có 06 túi nilon, bên trong các túi nilon chứa thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý. S đưa 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho người này và cầm số thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý vừa mua về chia nhỏ và cất giấu tại nhà mình để sử dụng rồi bán lại cho những ai có nhu cầu.

Khoảng 08 giờ ngày 18/12/2024, Nguyễn Trọng H sử dụng điện thoại di động nhãn Iphone Xs màu vàng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0566623409 đăng nhập vào ứng dụng messenger có tên đăng nhập “Lão Hạc” nhắn tin cho Lê Văn S có tên đăng nhập “Lê Văn S” để hỏi mua thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý để về sử dụng và bán lại kiếm lời. Nguyễn Trọng H hỏi: “Bạn còn đó không?”. Hiểu ý H hỏi còn thảo mộc khô dạng sợi chứa chất ma tuý nên S trả lời: “Bạn lấy nhiều không?”. H hỏi: “Nửa lượng đang nấy?”. Hiểu ý H hỏi giá nửa lượng thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý giá bao nhiêu tiền nên S trả lời: “Chín trăm bạn à!”. Sau đó, H sử dụng tài khoản ngân hàng V số [...] của H để chuyển tiền cho Lê Văn S, do S không có số tài khoản nên đã nhờ H chuyển khoản vào số tài khoản của Phan Công T2 rồi T2 rút tiền mặt và đưa cho S. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đang ở quán I thuộc khối P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì S đưa cho H một túi nilon bên trong đựng thảo mộc khô chứa chất ma tuý.

H đưa về nhà rồi chia nhỏ số thảo mộc khô bỏ vào trong 20 nilon để sử dụng và bán lại kiếm lời.

Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, Trần Văn H1 đi đến nhà Lê Văn S và hỏi mua 01 gói nhỏ thảo mộc khô có chất ma tuý để sử dụng và đưa cho S số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng). S đồng ý và lấy từ trong hộp carton để dưới giường ngủ một túi nilon đựng thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý bán cho H1. Sau đó, H1 tự lấy điếu cày bỏ thảo mộc khô dạng sợi và sử dụng tại nhà S nhưng S không biết việc H1 sử dụng thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý tại nhà mình. H1 sử dụng một ít rồi bỏ vào túi áo khoác đang mặc bên ngực trái.

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 19/12/2024, Đinh Văn T1 đi đến quán I thuộc khối P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An gặp Nguyễn Trọng H. Tại đây, T1 hỏi H: “Anh có thẻ mô nữa không bán cho em thẻ với?”. Hiểu ý T1 muốn mua một gói thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý nên H trả lời: “Anh còn nhưng mà không cầm đây mà để ở nhà rồi em à”. T1 đáp: “Rứa để em mượn xe ở quán chở anh về nhà lấy cho em cấy nha”. H đồng ý, trả lời: “Ok em!”. Sau đó, T1 mượn xe máy điện chở H về nhà. Tại đây, H lấy 20 gói nilon đựng thảo mộc khô dạng sợi bỏ vào trong túi áo ngực phía trong, bên trái. Khi gặp T1, H lấy từ trong túi áo ngực ra một gói nilon đựng thảo mộc khô dạng sợi bán cho T1. Sau khi trả số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) cho H thì cả hai cùng nhau quay trở lại quán internet rồi T1 đi về nhà. Khi về nhà, T1 lấy ra một ít để sử dụng, số thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý còn lại T1 để dưới nệm giường ngủ của mình.

Đến khoảng 11 giờ 52 phút ngày 19/12/2024, Hồ Viết N đi đến quan internet Euro gaming để gặp H. Sau khi gặp nhau, N hỏi H: “Có đưa đó không anh?”. Hiểu ý N hỏi muốn mua thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý nên H trả lời: “Có, lấy mấy cấy?”. N trả lời: “Lấy một cấy”. Hiểu ý, Nguyễn Trọng H lấy từ bên trong túi áo khoác bên trái một gói nilon đựng thảo mộc khô có chất ma tuý bán cho N. N sử dụng tài khoản ngân hàng M số 0941955116 để chuyển tiền thanh toán với số tiền là 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng). Sau đó, N điều khiển xe máy điện đi sang xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An và sử dụng hết số thảo mộc khô dạng sợi có chất ma tuý đã mua rồi đi về nhà.

Đến 12 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tổ công tác Công an huyện N tiến hành kiểm tra nhà ở của Lê Văn S. Quá trình kiểm tra phát hiện tại túi áo khoác phía ngoài bên ngực trái của Trần Văn H1 có 01 túi nilon, bên trong đựng thảo mộc khô dạng sợi nghi có chất ma tuý.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn S. Quá trình khám xét phát hiện, thu giữ 54 túi nilon đều có kích thước (7x4,3) cm, bên trong các túi đựng thảo mộc khô dạng sợi (nghi có chất ma tuý) ở trong hộp giấy cartton, đặt tại dưới chân giường ngủ của Lê Văn S; 02 túi nilon có kích thước (15,5x9) cm, bên trong các túi nilon đựng thảo mộc khô dạng sợi (nghi có chất ma tuý) tại dưới gầm phòng ngủ nhà Lê Văn S.

Đến 13 giờ 10 phút 19/12/2024, tổ Công tác Công an huyện N tiến hành kiểm tra quán I thuộc khối P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Quá trình kiểm tra, phát hiện tại túi áo ngực phía trong bên trái của Nguyễn Trọng H có 18 gói nilon, bên trong đựng thảo mộc khô dạng sợi nghi có chất ma tuý nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản làm việc, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Ngày 19/12/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trọng H nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

Ngày 21/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành lập biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định cho V1 - Bộ C2. Đến ngày 30/12/2024, V1 Bộ C2 tiến hành lập biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định cho Công an huyện N, tỉnh Nghệ An.

Tại bản kết luận giám định số: 10092/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của V1 - Bộ C2 kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA, MDMB-INACA trong mẫu thảo mộc khô dạng sợi đựng trong 18 túi nilon, trên phong bì ghi “Vật chứng thu giữ của Nguyễn Trọng H” và 01 túi nilon, trên phong bì ghi “Vật chứng thu giữ của Đinh Văn T1” gửi giám định. Khối lượng mẫu lần lượt là: 17,036 gam và 1,125 gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu lần lượt là: 0,076 gam và 0,004 gam. Hiện nay, V1 chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma tuý MDMB-INACA nên không xác định được hàm lượng, khối lượng MDMB-INACA có trong mẫu”.

Tại bản kết luận giám định số: 10094/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của V1 Bộ C2 kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA trong mẫu thực vật dạng sợi, niêm phong ghi “Vật chứng thu giữ của Trần Văn H1” gửi giám định. Khối lượng mẫu: 0,427 gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu: 0,0008 gam. Tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA, MDMB-INACA trong mẫu thực vật dạng sợi dựng trong 54 túi nilon và 02 túi nilon gửi giám định. Tổng khối lượng mẫu: 109,898 gam. Khối lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu: 0,1098 gam. Hiện nay, V1 chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma tuý MDMB-INACA nên không xác định được hàm lượng, khối lượng MDMB-INACA có trong mẫu”.

Bản cáo trạng số: 26/CT-VKSNĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Lê Văn S và Nguyễn Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn S mức án từ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 6 tháng tù; bị cáo Nguyễn Trọng H mức án từ 7 năm đến 7 năm 3 tháng tù.

Về vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy:

Một hộp cát tông đã được niêm phong, dán kín đúng quy định số 10094/KL-KTHS, được niêm phong bởi các chữ ký, ghi họ tên của Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Thị Thu L và các hình dấu đỏ của V1 - Bộ C2. Trên giấy niêm phong có ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định niêm phong số 10094/KL-KTHS”. Bên trong hộp cát tông có: 01 (một) dán kín, mặt trước phong bì có ghi” “Vật chứng thu giữ của Trần Văn H1”, đã cắt mép, bên trong có 01 (một) túi ni lon, bên trong có các túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, khối mẫu là 0,254 gam; 01 (một) hộp cát tông, bên trong đựng 01 (một) túi ni lon, bên trong túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, tổng khối lượng mẫu là 67,328 gam và các vỏ bao gói; 02 (hai) túi ni lon, bên trong túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, tổng khối lượng mẫu là 40,62 gam; 01 (một) hộp cát tông bên trong đựng nhiều vật hình trụ tròn, màu trắng (vỏ đầu lọc thuốc lá).

Một hộp cát tông đã được niêm phong, dán kín đúng quy định số 10092/KL-KTHS, được niêm phong bởi các chữ ký, ghi họ tên của Nguyễn Hữu H3, Lưu Mạnh H4 và các hình dấu đỏ của V1 - Bộ C2. Trên phong bì thư có ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định”. Bên trong phong bì thư có ghi: “Vật chứng thu giữ của Nguyễn Trọng H, khối lượng 16 gam thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi”; Mẫu “vật chứng thu giữ của Đinh Văn T1 tự nguyện giao nộp”; khối lượng 0,7 gam thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi.

Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, mặt trước màn hình có một vết đen hình tròn, mặt sau bọ vỡ, rạn nứt, gắn thẻ sim có số thuê bao 0585538686, số Imei 1: 358686411591773, Imei2: 358686411715224, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs màu vàng, mặt sau bị vỡ, rạn nứt, gắn thẻ sim có số thuê bao 0566623409, số Imei 1: 356166091259381, số Imei 2: 356166090876136, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra.

Truy thu tại bị cáo Lê Văn S số tiền 950.000 đồng và bị cáo Nguyễn Trọng H tiền 110.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí:

Buộc các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Trọng H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Trọng H đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, lỗi lầm xin Toà giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp lệ.

[2] Việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó Hội đồng xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Trọng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 18/12/2024, tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Lê Văn S bán cho Nguyễn Trọng H 20 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các sợi thảo mộc có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA với giá 900.000 đồng và bán cho Trần Văn H1 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các sợi thảo mộc có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA với giá 50.000 đồng.

Ngày 19/12/2024, tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Trọng H bán cho Đinh Văn T1 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các sợi thảo mộc có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA với giá 50.000 đồng và bán cho Hồ Viết N 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các sợi thảo mộc có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA với giá 60.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về áp dụng hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về công tác quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm. Do đó, cần lên một mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng và đấu tranh phòng ngừa chung, đặc biệt thời gian gần đây việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma tuý dạng thảo mộc (tobaco, cỏ) đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn huyện N nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung. Vụ án không có đồng phạm mà hai bị cáo thực hiện hai hành vi độc lập. Bị cáo S là người mua ma tuý từ người khác về chia nhỏ, bán trái phép chất ma túy cho bị cáo H và người khác kiếm lời, còn bị cáo H sau khi mua ma tuý từ bị cáo S về chia nhỏ ra tiếp tục bán lại cho hai người khác để kiếm lời. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng quả pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.

[5] Về xử lý vật chứng:

Một hộp cát tông đã được niêm phong, dán kín đúng quy định số 10094/KL-KTHS, được niêm phong bởi các chữ ký, ghi họ tên của Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Thị Thu L và các hình dấu đỏ của V1 - Bộ C2. Trên giấy niêm phong có ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định niêm phong số 10094/KL-KTHS”. Bên trong hộp cát tông có: 01 (một) dán kín, mặt trước phong bì có ghi” “Vật chứng thu giữ của Trần Văn H1”, đã cắt mép, bên trong có 01 (một) túi ni lon, bên trong có các túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, khối mẫu là 0,254 gam; 01 (một) hộp cát tông, bên trong đựng 01 (một) túi ni lon, bên trong túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, tổng khối lượng mẫu là 67,328 gam và các vỏ bao gói; 02 (hai) túi ni lon, bên trong túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, tổng khối lượng mẫu là 40,62 gam; 01 (một) hộp cát tông bên trong đựng nhiều vật hình trụ tròn, màu trắng (vỏ đầu lọc thuốc lá).

Một hộp cát tông đã được niêm phong, dán kín đúng quy định số 10092/KL-KTHS, được niêm phong bởi các chữ ký, ghi họ tên của Nguyễn Hữu H3, Lưu Mạnh H4 và các hình dấu đỏ của V1 - Bộ C2. Trên phong bì thư có ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định”. Bên trong phong bì thư có ghi: “Vật chứng thu giữ của Nguyễn Trọng H, khối lượng 16 gam thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi”; Mẫu “vật chứng thu giữ của Đinh Văn T1 tự nguyện giao nộp”; khối lượng 0,7 gam thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi.

Đây là các vật chứng liên quan đến vụ án, Nhà nước cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu huỷ.

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, mặt trước màn hình có một vết đen hình tròn, mặt sau bọ vỡ, rạn nứt, gắn thẻ sim có số thuê bao 0585538686, số Imei 1: 358686411591773, Imei2: 358686411715224, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs màu vàng, mặt sau bị vỡ, rạn nứt, gắn thẻ sim có số thuê bao 0566623409, số Imei 1: 356166091259381, số Imei 2: 356166090876136, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra. Đây là các vật chứng, các bị cáo sử dụng để liên lạc đến hành vi mua bán ma tuý còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.

Số tiền 900.000 đồng + 50.000 đồng = 950.000 đồng, bị cáo S thu lợi từ việc bán ma tuý 2 lần cho Nguyễn Trọng H và Trần Văn H1, S chưa giao nộp cần truy thu để nộp ngân sách nhà nước.

Số tiền 50.000 đồng + 60.000 đồng = 110.000 đồng, bị cáo H thu lợi từ việc bán ma tuý 2 lần cho Đinh Văn T1 và Hồ Viết N, bị cáo H chưa giao nộp cần truy thu để nộp ngân sách nhà nước.

[6] Hành vi liên quan:

Đối với người có tài khoản facebook đăng nhập tên “Văn Lâm”, đã bán cho Lê Văn S ba lượng thảo mộc khô chứa chất ma tuý (theo lời khai của S), do S không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Văn H1, Đinh Văn T1 chưa đủ cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hồ Viết N chưa đủ cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Phan Công T2 là người nhận tiền chuyển khoản số tiền 900.000 đồng từ Nguyễn Trọng H, sau đó T2 rút tiền mặt và đưa cho Lê Văn S. T2 không biết số tiền trên là tiền do S bán chất ma túy cho H nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với T2 là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Trọng H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo:

  • Lê Văn S 7 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2024.
  • Nguyễn Trọng H 7 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2024.
  1. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

2.1. Tịch thu và tiêu hủy:

Một hộp cát tông đã được niêm phong, dán kín đúng quy định số 10094/KL-KTHS, được niêm phong bởi các chữ ký, ghi họ tên của Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Thị Thu L và các hình dấu đỏ của V1 - Bộ C2. Trên giấy niêm phong có ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định niêm phong số 10094/KL-KTHS”. Bên trong hộp cát tông có: 01 (một) dán kín, mặt trước phong bì có ghi” “Vật chứng thu giữ của Trần Văn H1”, đã cắt mép, bên trong có 01 (một) túi ni lon, bên trong có các túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, khối mẫu là 0,254 gam; 01 (một) hộp cát tông, bên trong đựng 01 (một) túi ni lon, bên trong túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, tổng khối lượng mẫu là 67,328 gam và các vỏ bao gói; 02 (hai) túi ni lon, bên trong túi ni lon đựng thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi, tổng khối lượng mẫu là 40,62 gam; 01 (một) hộp cát tông bên trong đựng nhiều vật hình trụ tròn, màu trắng (vỏ đầu lọc thuốc lá).

Một hộp cát tông đã được niêm phong, dán kín đúng quy định số 10092/KL-KTHS, được niêm phong bởi các chữ ký, ghi họ tên của Nguyễn Hữu H3, Lưu Mạnh H4 và các hình dấu đỏ của V1 - Bộ C2. Trên phong bì thư có ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định”. Bên trong phong bì thư có ghi: “Vật chứng thu giữ của Nguyễn Trọng H, khối lượng 16 gam thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi”; Mẫu “vật chứng thu giữ của Đinh Văn T1 tự nguyện giao nộp”; khối lượng 0,7 gam thực vật (thảo mộc khô) dạng sợi.

2.2. Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, mặt trước màn hình có một vết đen hình tròn, mặt sau bọ vỡ, rạn nứt, gắn thẻ sim có số thuê bao 0585538686, số Imei 1: 358686411591773, Imei2: 358686411715224, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs màu vàng, mặt sau bị vỡ, rạn nứt, gắn thẻ sim có số thuê bao 0566623409, số Imei 1: 356166091259381, số Imei 2: 356166090876136, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra.

(Đặc điểm tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn ngày 26/02/2025).

2.3. Truy thu tại bị cáo Lê Văn S số tiền 950.000 đồng và bị cáo Nguyễn Trọng H tiền 110.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Trọng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đàn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hoàng Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Le Van Son và ĐP - MB TP chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger