Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 19/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Thành
Các Hội thẩm nhân dân.
+ Ông Đinh Thế Cần
+ Bà Nguyễn Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 03/TB-TA, ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày: 26/11/1988, tại xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở hiện tại: Chung cư L, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Q-là liệt sĩ và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1962, T là con duy nhất trong gia đình; chồng: Hoàng Dương H (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/10/2024 đến ngày 05/11/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa).
  2. Họ và tên: Tiêu Văn T2, sinh ngày: 03/12/1994, tại xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tiêu Văn T3, sinh năm 1972 và bà Trần Thị T4, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Trịnh Thu H1, sinh năm 1997; Có 01 con, sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là Đảng viên Đ, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng kể từ ngày 03/7/2024. Bản án số 228/2024/HSST, ngày 23/12/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù và phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; bị tạm giữ từ ngày 29/10/2024 đến ngày 04/11/2024 chuyển tạm giam tại Phân trại

2

tạm giam khu vực huyện Q, tỉnh Thái Bình (bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng:

  • - Ông Tiêu Văn T3, sinh năm 1972, nơi cư trú: thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
  • - Anh Đào Quang H2, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
  • - Anh Hoàng Đức D, sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Kim T5 (tên thường gọi là T6), sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

- Người chứng kiến:

  • - Anh Nguyễn Thành M, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết nhau từ trước nên khoảng 15 giờ 45 phút ngày 28/10/2024, Tiêu Văn T2 gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thu T hỏi mua 01 gói ma túy, loại Ketamin và 01 viên thuốc lắc là ma túy, loại MDMA với giá 1.900.000 đồng, mục đích để sử dụng, T đồng ý và nói “để tý có xe chị gửi cho”. T2 sử dụng tài khoản số [...] của T2 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C chuyển số tiền 1.900.000 đồng đến tài khoản số 8860188288888 của T mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 để mua số ma túy. Sau đó, T2 gọi điện thoại cho anh Nguyễn Kim T5 (tên thường gọi là T6), sinh năm 1992, cư trú cùng thôn nhờ tìm hộ xe để T gửi ma túy về cho T5. Anh Nguyễn Kim T5 lên mạng vào nhóm “Minh tacxi gia đình” đặt xe của anh Đào Quang H2, sinh năm 1988, ở thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình và chuyển địa chỉ, số điện thoại của T (T5 gửi trước đó) cho anh H2. Sau khi nhận tiền của T5, T lấy 02 túi chè khô hút chân không, màu vàng, có cùng kích thước (12x5)cm có sẵn trong nhà, để 02 gói chè vào khay nhựa màu trắng, mở mép túi chè lần lượt để 01 gói ma túy, loại Ketamine và 01 gói giấy ăn màu trắng, bên trong có 01 viên ma túy, loại MDMA để vào trong 02 túi chè trên. T dùng băng dính màu trắng cố định 02 túi chè bỏ vào hộp sạc dự phòng bằng giấy cứng hình hộp chữ nhật bọc bằng nilon chống sốc và dán lại. Sau đó, T bỏ vào 02 túi chè trên vào trong 01 túi giấy cứng màu cam có 02 dây xách, liên hệ với H2 và gửi ma túy về cho T5. Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, T5 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, biển số 17B4 -137.76 đến gặp anh H2 nhận ma túy và chuyển khoản thanh toán cho anh H2 số tiền 300.000 đồng tiền cước vận chuyển thì bị Công an huyện Q bắt quả tang. Thu giữ tại tay phải của T5 01 túi giấy cứng màu cam có 02 dây xách, bên trong đựng 01 vỏ hộp sạc dự phòng bằng giấy cứng hình hộp chữ nhật được bọc bằng nilon chống sốc, dán bằng băng dính trong suốt, trong hộp chứa 01 khay nhựa màu trắng, bọc 01 lớp nilon trong suốt; trên khay nhựa có 02 túi chè khô có cùng đặc điểm bên ngoài gói bằng nilon màu vàng. Trước sự chứng kiến của anh Đào Quang H2, sinh năm 1988, ở thôn A, xã Q, huyện Q và anh Nguyễn Thành M, sinh năm 1989, ở thôn L, xã C, huyện Q,

3

tỉnh Thái Bình. Công an huyện Q mở kiểm tra, thu giữ và niêm phong túi thứ nhất, bên trong chứa chè khô và 01 tờ giấy ăn được cuộn lại, mở ra là 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, bên trong tờ tiền chứa các hạt tinh thể trong suốt (ký hiệu M1) gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine có khối lượng 0,5992 gam; 01 túi còn lại bên trong chứa chè khô và 01 tờ giấy ăn màu trắng được cuộn lại, mở ra bên trong chứa 01 viên nén màu xám hình lục giác (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, loại MDMA có khối lượng 0,4108 gam. Ngoài ra, Công an huyện Q tại túi quần bên phải phía trước của T5 đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng. Kiểm tra xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh, biển số 17B4 -137.76 do T5 điều khiển không phát hiện, quản lý thu giữ gì liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã đưa T5 cùng vật chứng và mời người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 29/10/2024 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tiêu Văn T2 ở thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình Công an huyện Q không thu giữ quản lý đồ vật tài sản gì; khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1988, tại P322, CT2 chung cư L, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Kết quả: Phát hiện tại phòng khách 01 vỏ dự phòng sạc pin màu trắng nhãn hiệu Power kích thước (18x10)cm, bên trong có 01 khay nhựa màu trắng; tại giá để đồ gian bếp 07 gói chè màu vàng, đều có kích thước (12x5)cm.

Tại bản kết luận giám định số 1615/KL-KTHS, ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,5992 gam; Mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại MDMA có khối lượng 0,4108 gam. Tổng khối lượng 02 chất ma tuý 1,01gam.

Bản cáo trạng số 14/CT-VKSQP ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Nguyễn Thị Thu T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Tiêu Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai như sau:

Bị cáo Tiêu Văn T2 và bị cáo Nguyễn Thị Thu T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng và nội dung vụ án nêu trên. Các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Tiêu Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251, điểm s, x khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 30/10/2024, phạt bổ sung bị cáo T từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Tiêu Văn T2 mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Đề nghị không áp dụng

4

hình phạt bổ sung đối với bị cáo T2. Áp dụng Điều 55, 56, 104 Bộ luật Hình sự, tổng hợp mức án 03 năm tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 228/2024/HSST ngày 23/12/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, được trừ thời gian tạm giữ 47 ngày (từ ngày 01/7/2024 đến ngày 16/8/2024), thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 29/10/2024. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như không có ý kiến khiếu nại gì về việc giám định. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và cơ quan giám định, người giám định đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị Thu T, Tiêu Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 21 giờ 15 phút ngày 28/10/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 01 đến số 03); Các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 22 giờ 30 phút; 22 giờ 40 phút cùng ngày 28/10/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q (bút lục từ số 05 đến 07); Kết luận giám định số 1615/KL-KTHS, ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,5992 gam; Mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại MDMA có khối lượng 0,4108 gam (bút lục số 11,12); Biên bản mở kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng của Tiêu Văn T2 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 29/10/2024 (bút lục số 61); Biên bản làm việc về việc mở kiểm tra điện thoại di động Iphone 12 promax, màu trắng thu của Nguyễn Thị Thu T; biên bản quản lý điện thoại, 01 chiếc túi xách bằng nhựa, màu đen, kích thước (17x12)cm của Nguyễn Thị Thu T giao nộp do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 29/10/2024 (bút lục số 40); Công văn số 572 ngày 06/12/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần C và sao kê tài khoản của Tiêu Văn T2; sổ phụ chi tiết kèm theo của Nguyễn Thị Thu T. Kết quả thể hiện T2 đã chuyển số tiền 1.900.000 đồng cho T vào hồi 16 giờ 56 phút ngày 28/10/2024 (bút lục số 63, 64); Biên bản ghi lời khai người làm chứng: anh Đào

5

Quang Hạnh, sinh năm 1988, cư trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; anh Hoàng Đức D, sinh năm 2000, cư trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình và anh Nguyễn Kim T5 (tên thường gọi là T6) sinh năm 1992, cư trú tại thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình (bút lục từ số 147 đến số 150; số 204, 205); Biên bản ghi lời khai người chứng kiến: anh Nguyễn Thành M, sinh năm 1989, cư trú tại thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số145, 146); Biên bản ghi lời khai người làm chứng: ông Tiêu Văn T3, sinh năm 1972, cư trú tại thôn K, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh, biển số 17B4-137.76 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Tiêu Văn T3, ông không biết T5 sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lấy ma túy ngày 28/10/2024. Ông T3 đã được nhận lại chiếc xe nói trên và không có yêu cầu đề nghị gì (bút lục số 200, 201); Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 28/10/2024, tại chung cư L, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thị Thu T có hành vi bán trái phép 0,5992 gam ma túy, loại Ketamine và 0,4108 gam ma túy, loại MDMA cho Tiêu Văn T2 với số tiền 1.900.000 đồng, bằng hình thức thức mua bán nhận tiền tài khoản và gửi ma túy qua xe ô tô taxi. Đến 20 giờ 45 phút cùng ngày, tại đường thuộc địa phận thôn H, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tiêu Văn T2 có hành vi nhận, tàng trữ trái phép 0,5992 gam ma túy, loại Ketamine và 0,4108 gam ma túy, loại MDMA T gửi đến, mục đích để sử dụng. Tổng khối lượng 02 chất ma tuý 1,01gam.

Hành vi bán trái phép 0,5992 gam ma túy, loại Ketamine và 0,4108 gam ma túy, loại MDMA cho Tiêu Văn T2 của bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,5992 gam ma túy, loại Ketamine và 0,4108 gam ma túy, loại MDMA trong người của bị cáo Tiêu Văn T2 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

6

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và nhận thức rõ việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật. Bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Tệ nạn ma tuý hiện nay đang là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ tác hại của ma túy song vẫn thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Thu T có bố đẻ là liệt sĩ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội là con của liệt sĩ” quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiêm đối với các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trang mục đích bán ma tuý để kiếm lời khối lượng ma túy nhiều do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T. Đối với bị cáo T2 mua ma tuý để sử dụng cho bản thân, không có thu nhập ổn định nên đề nghị áp không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T2 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Chất ma túy thu giữ của bị cáo Tiêu Văn T2 hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và dụng cụ dùng vào việc phạm tội ma túy nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật

7

Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 túi giấy cứng màu cam có 02 dây xách kích thước (29x15)cm; 01 vỏ sạc dự phòng sạc pin màu trắng nhãn hiệu Power, bọc bằng nilon chống sốc, dán bằng băng dính trong suốt, trong hộp chứa: 01 khay nhựa màu trắng và 02 gói màu vàng có chữ “Trà đặc sản Thái Nguyên” (đã bóc); 01 vỏ dự phòng sạc pin màu trắng nhãn hiệu Power; bên trong có 01 khay nhựa màu trắng; 07 gói chè màu vàng, đều kích thước (12x5)cm; 01 chiếc túi xách bằng nhựa, màu đen, kích thước (17x12)cm, không còn giá trị sử dụng, những đồ vật trên là dụng cụ của bị cáo T để mua bán ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 1.900.000 đồng là tiền bị cáo T bán ma túy mà có. Đối với một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng đã qua sử dụng của bị cáo T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, đã qua sử dụng là của bị cáo T là phương tiện để các bị cáo liên lạc với nhau mua bán ma túy nên cần tịch thu, hoá giá nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo T khai 0,5992 gam ma túy, loại Ketamine và 0,4108 gam ma túy, loại MDMA thu của T2 ngày 28/10/2024 là của T bán cho T2, số ma túy trên T nhặt được ở một quán bar (không biết địa chỉ cụ thể) tại thành phố Hà Nội. Không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với anh Đào Quang H2: tại Cơ quan điều tra anh H2 khai anh làm nghề lái xe Taxi, ngày 28/10/2024 tại Phố N, tỉnh Hưng Yên anh nhận chở chuyển 01 túi giấy cứng màu cam có 02 dây xách của một người phụ nữ (không biết tên tuổi địa chỉ) gửi về cho một người đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ) ở tỉnh Thái Bình với giá cước 300.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh, kết quả điều tra xác định: anh Đào Quang H2 không quen biết các bị cáo Nguyễn Thị Thu T và Tiêu Văn T2; ngày 28/10/2024, sau khi nhận túi xách trên của T gửi cho T2 với mức cước được trả 300.000 đồng bằng tiền cước của một khách đi xe, anh H2 nghi ngờ là hàng cấm nên đã báo Công an huyện Q bắt quả tang. Anh H2 không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q không xử lý gì đối với anh H2 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh, biển số 17B4-137.76 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Tiêu Văn T3, ông không biết T2 sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lấy ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông T3 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T và bị cáo Tiêu Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Tiêu Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

8

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 30/10/2024. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tiêu Văn T2 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55, 56, 104 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp với hình phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 228/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo Tiêu Văn T2 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm tù, được trừ thời gian tạm giữ 47 ngày (từ ngày 01/7/2024 đến ngày 16/8/2024), thời gian còn phải chấp hành hình phạt 04 năm 10 tháng 13 ngày, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 29/10/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1615/KL-KTHS, ngày ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T; 01 túi giấy cứng màu cam có 02 dây xách kích thước (29x15)cm; 01 vỏ dự phòng sạc pin màu trắng nhãn hiệu Power, bọc bằng nilon chống sốc, dán bằng băng dính trong suốt, trong hộp chứa: 01 khay nhựa màu trắng và 02 gói màu vàng có chữ “Trà đặc sản Thái Nguyên” (đã bóc); 01 vỏ dự phòng sạc pin màu trắng nhãn hiệu Power, bên trong có 01 khay nhựa màu trắng; 07 gói chè màu vàng, đều kích thước (12x5)cm; 01 chiếc túi xách bằng nhựa, màu đen, kích thước (17x12)cm; Tịch thu hoá giá nộp ngân sách Nhà nước các điện thoại di động: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng gold, số IMEI 1: 357285093898373, IMEI 2: 357285093936017, lắp sim 0963555771, đã qua sử dụng của bị cáo Tiêu Văn T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu trắng số IMEI 1: 350141788381331, IMEI 2: 350141788272522, lắp sim 058714111 và 0988097888, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị Thu T; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.900.000 đồng (bị cáo T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ theo biên lai số 0003252 ngày 10/01/2025).

(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 31 ngày 20/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Tiêu Văn T2 phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Nguyễn Thị Thu T, Tiêu Văn T2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/3/2025)./.

9

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ; VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Quỳnh Phụ;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tiến Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu Trang phạm tội Mua bán TPCMT (xử phạt 02 năm 06 tháng tù)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger