TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HSST
Ngày: 18/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh và ông Nguyễn Quyết Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị C- Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 07/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 07/03/2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Ngọc S; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm 2002 tại thành phố N, tỉnh Nam Định; Đăng ký HKTT/trú tại: Thôn P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Mạnh H, sinh năm 1977; con bà: Đoàn Thị N, sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. S bị tạm giữ từ ngày 20/01/2025 đến ngày 23/01/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt).
- Họ và tên: Nguyễn Nhật M; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 2002 tại thành phố T, tỉnh Thái Bình; Đăng ký HKTT: 506P8 đô thị V, phường G, quận L, thành phố Hà Nội; Trú tại: Căn hộ S tòa chung cư W, khu đô thị E, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn S1 (đã chết); con bà: Ngô Thị H1, sinh năm 1961; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. M bị tạm giữ từ ngày 18/01/2025 đến ngày 24/01/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt).
* Người làm chứng:Ông Phạm Hồng L, sinh năm: 1972
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 18 tháng 01 năm 2025, Công an xã X phối hợp cùng Công an xã P tiến hành tuần tra, để đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tòa D chung cư W, khu đô thị E thuộc xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Nhật M sinh năm 2002, đăng ký hộ khẩu thường trú (HKTT): 506P8, khu đô thị V, phường G, quận L, thành phố Hà Nội (đang tạm trú tại căn hộ S tòa D) có hành vi cất giấu trên người chất dạng cục màu xanh nâu nghi là ma túy. Thu giữ tại túi áo ngực của M 01 túi nilon màu trắng, hình chữ nhật kích thước (18 x 12)cm và thu tại túi quần phía trước bên trái của M đang mặc 01 túi nilon màu trắng, hình chữ nhật kích thước (9,5 x 6)cm, miệng có khóa dán ép viền màu đỏ (bên trong cả 02 túi đều chứa chất dạng cục màu xanh nâu). M khai nhận các chất bị thu giữ nói trên là ma túy (loại lá Cần sa), do M mua về để bán lại cho người khác. Toàn bộ số vật chứng nêu trên được Công an xã X niêm phong trong phong bì kí hiệu M1. Ngoài ra còn thu giữ của M: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, bên trong không có sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng, bên trong có gắn sim thuê bao số 0845796386.
Ngay sau đó, Công an xã X đã bàn giao M cùng vật chứng, đồ vật có liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V khám xét khẩn cấp chỗ ở của M tại căn hộ S, tòa D chung cư Westbay thì phát hiện và thu giữ tại ngăn kéo tủ để quần áo trong phòng ngủ 02 túi nilon màu trắng hình chữ nhật, miệng có khóa dán ép viền màu đỏ cùng kích thước (13x9)cm, bên trong đều chứa chất dạng cục màu xanh nâu, nên đã tiến hành niêm phong trong phong bì kí hiệu M2.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V trưng cầu giám định chất màu xanh nâu đã thu giữ của M trong niêm phong kí hiệu M1, M2. Ngày 22/01/2025, Phòng K Công an tỉnh H đã giám định và kết luận: Mẫu chất dạng búp, cành, lá khô màu xanh nâu trong niêm phong ghi kí hiệu M1, có tổng khối lượng là 11,118g, là ma túy loại Cần sa; mẫu chất dạng búp, cành, lá khô màu xanh nâu trong niêm phong ghi kí hiệu M2, có tổng khối lượng là 43,830g, là ma túy loại Cần sa.
Ngày 19/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện V xét nghiệm nước tiểu của M cho kết quả dương tính với ma túy, loại THC (được xác định là lipid có trong Cần sa); tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus của M không phát hiện được nội dung gì có liên quan. Kiểm tra điện thoại Iphone 13 màu hồng, phát hiện trong ứng dụng của mạng xã hội T khi đăng nhập tên tài khoản của M là “kazz”, thì phần tin nhắn giữa tài khoản của M với một tài khoản có tên “...tệp đính kèm” có nội dung trao đổi mua bán và hình ảnh túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất màu xanh nâu. M khai nhận chủ tài khoản “...tệp đính kèm” là Phạm Ngọc S sinh năm 2002, đang ở thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Số ma túy đang bị lực lượng Công an xã thu giữ của M ở trên người và trong căn hộ số 1718 nói trên, đều là của S giao cho M mang đi bán cho người khác.
Ngày 20/01/2025, Phạm Ngọc S đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V đầu thú, giao nộp điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen, bên trong có gắn sim thuê bao số 0818441297 thì phát hiện tại phần tin nhắn trong ứng dụng Telegram có nội dung trao đổi với M liên quan đến việc mua bán ma túy. Ngoài ra trong danh bạ bạn bè của S còn có tài khoản Mr.Annymous-@trumcuoi1988 và tài khoản “Mút-@ElonMusk1102”, S khai 02 tài khoản này là của người điều hành chỉ đạo S bán ma túy, nhưng kiểm tra cụ thể thì không thấy có tin nhắn nào giữa S với các tài khoản nói trên, cũng không biết số điện thoại, địa chỉ liên hệ của người này. Ngay sau đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã đưa S đi xét nghiệm nước tiểu cho kết quả dương tính với ma túy, loại THC, đồng thời tiến hành khám xét khẩn chỗ ở của S tại thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội nhưng không thu giữ được gì. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã quyết định tạm giữ S để tiến hành điều tra.
Tại cơ quan điều tra, S khai nhận nguồn gốc số ma túy mà S giao cho M ngày 18/01/2025 để mang đi bán cho người khác là của người có tài khoản Mr.Annymous-@trumcuoi1988 (gọi là người điều hành). Người này lập ra một nhóm có tên “HN-MUSK-SHIP 4” và thêm S vào trong nhóm để tiện trao đổi việc mua bán ma túy. S không quen biết những người trong nhóm và chỉ liên hệ giao dịch thông qua tài khoản Telegram. Các thành viên trong nhóm sẽ gửi thông tin mà khách có nhu cầu mua ma túy C, thì người điều hành sẽ chuyển ma túy cho S thông qua dịch vụ shipper để S lại gửi bán ma túy cho khách. Nếu S bán được 30 lần tương ứng với 30 đơn hàng của khách, thì S sẽ được trả công là 300.000đ tiền đóng gói và 300.000đ tiền thưởng theo đơn. S thường đặt shipper sử dụng xe mô tô qua app phần mềm “Ahamove” (nên S không biết lai lịch của shipper và biển số xe mô tô cụ thể) để thực hiện việc giao Cần sa cho khách và khách sẽ tự trả tiền ship cho shipper. Còn tiền khách mua ma túy thì khách sẽ trả cho người điều hành, nên S không biết được số tiền đã bán ma túy là bao nhiêu.
Ngày 17/01/2025, S nhận được đơn hàng, bên trong có chất ma túy Cần sa do người điều hành gửi đến qua shipper. Sau đó S liên hệ với M để giao ma túy cho M đi bán và thống nhất là M sẽ được hưởng 1/2 số tiền có được từ việc bán ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/01/2025, S bảo M đến địa chỉ số G, B, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội để lấy ma túy, S đến và đưa cho M 03 túi nilon bên trong chứa chất dạng cục màu xanh nâu là ma túy Cần sa. Ngay sau đó, người điều hành đã giải tán nhóm rồi đẩy S ra khỏi nhóm, nên S không nhớ được các thông tin của những khách hàng trước đó và cũng không lưu được các tin nhắn của nhóm nói trên. S khai đã bán ma túy giúp người điều hành nhưng chưa được trả tiền công hay tiền thưởng nào như thỏa thuận.
Nguyễn Nhật M khai nhận: Sau khi nhận được ma túy của S vào ngày 18/01/2025 tại địa chỉ số G, B, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội, thì M đã mang về cất trong tủ quần áo tại căn hộ S tòa D khu đô thị E, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đến khoảng 18 giờ ngày 18/01/2025, M nhận được tin nhắn trong ứng dụng T từ tài khoản “Rice” của người thanh niên có tên là D (không rõ lai lịch) hỏi mua 10g ma túy Cần sa với giá 1.500.000đ. M hẹn D đến quá trà đá trước cửa tòa C chung cư W để giao ma túy. Sau đó, M đã xóa cuộc trò chuyện bằng tin nhắn giữa M với D, rồi lấy từ trong tủ quần áo 01 túi ma túy cất vào túi quần phía trước bên trái và 01 túi ma túy cất vào túi áo ngực mà M đang mặc để mang đi bán cho D. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi M đang đứng ở chân tòa D chung cư W thì bị lực lượng Công an xã X phối hợp cùng Công an xã P kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ 02 gói ma túy cùng đồ vật có liên quan.
Ngày 24/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện V có văn bản trao đổi với Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Hà Nội về thẩm quyền giải quyết đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Phạm Ngọc S với Nguyễn Nhật M vào ngày 18/01/2025 xảy ra tại phường Q, quận H. Ngày 14/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Hà Nội có văn bản đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiếp tục xử lý vụ án theo quy định pháp luật.
Đối với người mua ma túy có tên D và nhóm người sử dụng tài khoản T để liên lạc với S về việc mua bán ma túy, trong đó có tài khoản Mr.Annymous-@trumcuoi1988 và tài khoản “Mút-@ElonMusk 1102” thì chỉ có lời khai của M về D và lời khai của S về việc S đã bán ma túy cho người khác từ ngày 06/01/2025 đến ngày 17/01/2025 (nhưng không rõ lai lịch của ai). Nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Tài liệu, đồ vật và vật chứng chưa xử lý: Mẫu vật hoàn lại niêm phong sau giám định bên trong chứa 10,235g ma túy loại Cần sa trong niêm phong kí hiệu M1; 33,207g ma túy loại Cần sa trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 điện thoại Iphone 7 plus màu vàng; 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy A32 màu đen. Tất cả đang được quản lý tại Kho vật chứng của Công an tỉnh H.
Quá trình điều tra, Phạm Ngọc S và Nguyễn Nhật M thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hình vi phạm tội của mình.
Tại cáo trạng số 30/CT-VKSVG ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đã truy tố các bị cáo Phạm Ngọc Sơn và Nguyễn Nhật Minh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị HĐXX: Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Ngọc S và Nguyễn Nhật M. Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc S và Nguyễn Nhật M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 20/01/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật M từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/01/2025.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 46; điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX: Tịch thu cho tiêu hủy 10,235g ma túy loại Cần sa trong niêm phong kí hiệu M1; 33,207g ma túy loại Cần sa trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, bên trong có gắn sim thuê bao số 0845796386; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu đen.
Trả lại bị cáo Nguyễn Nhật M 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu vàng, bên trong không có sim.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật.
- Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng. Xét thấy người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp khách quan với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Do đó HĐXX đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/01/2025, tại địa chỉ số G, B, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; Phạm Ngọc Sơn đã giao cho Nguyễn Nhật M 03 túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy loại Cần sa có tổng khối lượng 45,48g để mang đi bán cho người khác cùng nhau kiếm lời. M đã mang 03 túi ma túy Cần sa nói trên về cất giấu tại tủ đựng quần áo trong căn hộ số A tòa D, khu đô thị E, xã P, huyện V với mục đích để bán. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, M lấy ra 02 túi ma túy Cần sa có tổng khối lượng 11,118g cất trong túi áo và túi quần đang mặc để mang đi bán cho người (không rõ lai lịch cụ thể), nhưng chưa kịp bán thì bị Công an xã X và Công an xã P phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hành vi của các bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, kinh tế, hạnh phúc gia đình của chính các bị cáo cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác.
[4]. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo S là người khởi xướng, cung cấp ma túy cho bị cáo M đi bán và chia tiền cho M nên bị cáo S giữ vai trò chính. Bị cáo M là người trực tiếp đi lấy ma túy về bán để hưởng lợi nên giữ vai trò đồng phạm tích cực.
[5]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt của các bị cáo:
- Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo S sau khi phạm tội đã ra đầu thú; Bị cáo M được mẹ đẻ làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt và được chính quyền địa phương xác nhận, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng nhiều Bằng khen, Giấy khen nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, góp phần phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7].Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- 10,235g ma túy loại Cần sa trong niêm phong kí hiệu M1; 33,207g ma túy loại Cần sa trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, bên trong có gắn sim thuê bao số 0845796386; 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu đen bên trong có gắn sim thuê bao số 0818441297; đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước.
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu vàng, bên trong không có sim của bị cáo Nguyễn Nhật M không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[8]. Các vấn đề khác: Quá trình điều tra, không xác định được người thanh niên tên D đã mua ma túy của M; không xác định được nhóm người sử dụng tài khoản Telegram để liên lạc với S về việc mua bán ma túy, trong đó có tài khoản Mr.Annymous-@trumcuoi1988 và tài khoản “Mút-@ElonMusk 1102” nên không có căn cứ xử lý.
[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Ngọc S và Nguyễn Nhật M.
- Khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Khoản 1 Điều 293; Điều Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Ngọc S và Nguyễn Nhật M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Mức hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 20/01/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật M 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/01/2025.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 19/KL-KTHS(MT), bên trong chứa 10,235g ma túy loại Cần sa trong niêm phong kí hiệu M1; 33,207g ma túy loại Cần sa trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, bên trong có gắn sim thuê bao số 0845796386; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu đen bên trong có gắn sim thuê bao số 0818441297.
Trả lại bị cáo Nguyễn Nhật M 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu vàng, bên trong không có sim.
- Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Ngọc S và Nguyễn Nhật M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Lâm |
Bản án số 21/2025/HSST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc S phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
