|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:21/2025/HS-PT
Ngày: 18/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ÔngPhan Vĩnh Chuyển
Các Thẩm phán:
Ông Trần Minh Long
Ông Lê Tự Sinh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Na- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 236/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Lê Thị Thanh M và Trương Thị Hồng L có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Các bị cáo có kháng cáo:
- LÊ THỊ THANH M, sinh ngày 08/6/1985 tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (chết) và bà Phan Thị X (còn sống); có chồng là Phan Thanh H và 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không.
- TRƯƠNG THỊ HỒNG LÊ, sinh ngày 29/11/1983 tại thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Số F đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn M1 và bà Lê Thị Phương L1 (đều còn sống); có chồng Lê Tiến D (đã ly hôn); và có 01 con con (sinh năm 2014) bị cáo hiện đang trực tiếp nuôi con (sau ly hôn); tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 08/01/2021, bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 18(mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc. Thời hạn thử thách là 36 tháng tính từ ngày08/01/2021(đã chấp hành xong hình phạt tù cho hưởng án treo, chưa được xóa án tích theo luật định).
Về nhân thân: Ngày 06/6/2019, bị Công an xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng)về hành vi đánh bạc.
Bị cáo Lê Thị Thanh M đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo Trương Thị Hồng L2 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện đang tại ngoại.Có mặt tại phiên tòa.
*Người bào chữa cho bị cáo Trương Thị Hồng L2: Ông Trần Văn Đ- Luật sư - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ theo yêu cầu chỉ định của Tòa án. Có đơn xin xét xử vắng mặt và có bản luận cứ bào chữa gửi cho HĐXX xem xét.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 28/4/2024, qua công tác kiểm tra hành chính tại nhà của Lê Thị Thanh M ở thôn P, xã H, huyện H TP.Đà Nẵng, Công an xã H đã phát hiện M cùng với Trương Thị Hồng L2, Đỗ Thị L3, Đỗ Thị N và Trần Thị S đang thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền (dưới hình thức đánh xì lát) nên đã lập biên bản bắt giữ. Qua đó, Công an xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng đã thu giữ tang vật tại chỗ gồm: 01(một) bộ bài tây 52 lá; Số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng) của Lê Thị Thanh M; Số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng) của Đỗ Thị L3; Số tiền 3.227.000 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi bảy ngàn đồng) của Đỗ Thị N; Số tiền 3.315.000 đồng (Ba triệu ba trăm mườilăm ngàn đồng) của Trương Thị Hồng L2 và số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi ngàn đồng) của Trần Thị S.
Quá trình điều tra xác định: Tối ngày 28/4/2024, Lê Thị Thanh M rủ các đối tượng gồm L3, N, L2 và S đánh bạc xì lát ăn thua bằng tiền tại nhà của M. M là người cầm cái trực tiếp ăn thua với những người chơi còn lại, mỗi người chơi trực tiếp ăn thua với người làm cái là M. Khi bị bắt Công an tạm giữ của:
- Lê Thị Thanh M số tiền sử dụng đánh bạc 1.300.000 đồng(Một triệu ba trăm ngàn đồng); Do đó số tiền được tính sử dụng đánh bạc đối với M là số tiền mà M sử dụng đánh bạc là 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng) cộng với tổng số tiền mà những người còn lại sử dụng đánh bạc. Tổng cộng là 9.092.000 đồng(Chín triệu không trăm chín mươi hai ngàn đồng).
- Trương Thị Hồng L2 số tiền sử dụng đánh bạc là 3.315.000 đồng(Ba triệu ba trăm mườilăm ngàn đồng). Trong số tiền này thì Lê có thắng được khoảng 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) đến 300.000 đồng(Ba trăm ngàn đồng).
- Đỗ Thị L3 số tiền sử dụng đánh bạc là 700.000 đồng(Bảy trăm ngàn đồng): Trong số tiền này L3 thắng được 200.000 đồng(Hai trăm ngàn đồng).
- Đỗ Thị N số tiền 3.227.000 đồng sử dụng đánh bạc(Ba triệu hai trăm hai mươi bảy ngàn đồng). Thực tế đã thua hết số tiền khoảng 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) đến 300.000 đồng(Ba trăm ngàn đồng).
- Trần Thị S: Sử dụng số tiền 550.000 đồng (Năm năm mươi ngàn đồng) đánh bạc.
Như vậy, tổng số tiền M, L2 và các đối tượng N, L3, S sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.092.000 đồng(Chín triệu không trăm chín mươi hai ngàn đồng)
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Thanh M, Trương Thị Hồng L2 phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Thanh M 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Hồng L2 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Trong hạn luật định, ngày 09/10/2024 và 14/10/2024,các bị cáo Trương Thị Hồng L2 và Lê Thị Thanh M có đơn kháng cáo với nội dung: đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Lê Thị Thanh M và Trương Thị Hồng Lê G nguyên nội dung kháng cáo, đồng thời thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “ Đánh bạc” là đúng pháp luật, không oan. Các bị cáo chỉ kháng cáo xin HĐXX cấp phúc xem xét về cho điều kiện hoàn cảnh gia đình của mỗi bị cáo, trong đó bị cáo M hiện đang bị bệnh hiểm nghèo, chồng đang làm đơn xin ly hôn, Tòa án huyện H, thành phố Đà Nẵng đang thụ lý giải quyết, phạm tội lần đầu, bị cáo L2 đã ly hôn chồng và đang nuôi con còn nhỏ, cả hai bị cáo đều có nguyện vọng xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương làm ăn, nuôi con và điều trị chữa bệnh hiểm nghèo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trương Thị Hồng L2 và Lê Thị Thanh M trong hạn luật định, nên đảm bảo hợp lệ theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm số:105/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo Trương Thị Hồng L4 và Lê Thị Thanh M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về nhân thân của các bị cáo, qua đó xử phạt mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù và cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo, giáo dục răn đe các bị cáo là cần thiết. Mặt dù tại phiên tòa cấp phúc thẩm, bị cáo M bổ sung bệnh án đang điều trị bệnh hiểm nghèo (Bướu giáp đa nhân), chồng xin ly hôn Tòa án đang thụ lý giải quyết, bị cáo Lê bổ S1 bệnh án đang điều trị Viêm ruột thừa và các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí HSST khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật, tuy đây là tình tiết mới, nhưng những tình tiết này cũng không làm thay đổi về mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo; Do đó, đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Trần Văn Đ người bào chữa cho bị cáo Trương Thị Hồng L2 có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời giử luận cứ bào chữa cho bị cáo Lê với nội dung sau:
Thống nhất về tội danh, điểm khoản điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xetsxuwr bị cáo, nên không có ý kiến tranh luận. Tuy nhiên, về hình phạt luật sư đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết sau; Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền bị cáo tham gia đánh bạc không lớn chỉ ở mức giải trí trong lúc rảnh rỗi và dưới mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố, về bản thân bị cáo hiện là mẹ đơn thân, nuôi con còn nhỏ đang học tiểu học, gia đình thuộc diên hộ nghèo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định. Với các lập luận trên, Luật sư đề nghị HĐXX xem xét mở lượng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 BLHS, cải tạo tại địa phương, làm ăn, chăm sóc nuôi dững con cái trong độ tuổi ăn học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trương Thị Hồng L2, đồng ý xét xử vắng mặt luật sư Trần Văn Đ người bào chữa cho bị theo yêu cầu, đồng thời thống nhất về luận cứ bào chữa của luật sư giử cho HĐXX đề nghị xem xét. Căn cứ Điều 291 BLTTHS, Tòa án xét xử vụ án theo luật định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lê Thị Thanh M và Trương Thị Hồng L2 đều khai nhận: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 28/4/2024, tại nhà riêng của bị cáo Lê Thị Thanh M tại thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, Lê Thị Thanh M cùng với Trương Thị Hồng L2, Đỗ Thị N, Đỗ Thị L3 và Trần Thị S đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức “Xì lát” do M là người cầm cái ăn thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật là 01(một) bộ bài tây 52 lá, cùng với số tiền tất cả thu giữ của những người tham gia là 9.092.000 đồng (Chín triệu, không trăm chín mươi hai ngàn đồng). Trong đó, bị cáo M sử dụng số tiền 1.300.000 đồng(Một triệu ba trăm ngàn đồng), bị cáo L2 sử dụng số tiền 3.315.000 đồng(Ba triệu ba trăm mườilăm ngàn đồng) đánh bạc. Nhận thấy, bị cáo M tuy sử dụng số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng) tham gia đánh bạc, nhưng chính bị cáo là người trực tiếp cầm cái đánh bạc ăn thua bằng tiền với tất cả những người tham gia cùng đánh bạc trong tổng số tiền đánh bạc mà bị cáo và những đối tượng có liên quan khai nhận với tổng số tiền đánh bạc là: 9.092.000 đồng (Chín triệu, không trăm chín mươi hai ngàn đồng); bị cáo Lê T sử dụng số tiền đánh bạc 3.315.000 đồng(Ba triệu ba trăm mườilăm ngàn đồng)dưới mức khởi điểm của khung hình phạt truy tố 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), nhưng do bị cáo đã có 01(một) tiền án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích theo luật định, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo Lê Thị Thanh M và Trương Thị Hồng L2 về tội “Đánh bạc” theo tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét đơn kháng cáo của các bị cáo M và L2 thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, song đã xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh trật tự tại địa phương, do đó việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiệt. Xét khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, có xem xét về nhân thân các bị cáo, áp dụng đầy dủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, qua đó xử phạt mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù và cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo giáo dục là cần thiết; Tuy nhiên, HĐXX cấp phúc thẩm thấy rằng, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không lớn, tuy có ăn thua bằng tiền nhưng chỉ mang tính giải trí, bản thân bị cáo M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hiện đang bị bệnh hiểm nghèo “Bướu giáp đa nhân” cần phải được điều trị thường xuyên, bị cáo Lê số tiền tham gia đánh bạc không lớn ở dưới mức khởi điểm của khung hình phạt truy tố, hiện là mẹ đơn thân đang nuôi con trong độ tuổi ăn học tiểu học, cả hai bị cáo điều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo Lê T1 diện hộ nghèo, tại phiên tòa cấp phúc thẩm các bị cáo có bổ sung tình tiết đang điều trị bệnh bệnh viện, và đã tự nguyện nộp số tiền 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật, điều đó thể hiện các bị cáo đã thật sự hối hận, ăn năn hối cải cho hành vi của mình, xét đây là tình tiết mới phát sinh ở cấp phúc thẩm, nên HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo giảm nhẹ cho mỗi bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật; Riêng về kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo là không phù hợp, do nhân thân các bị cáo không tốt (Đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc và xét xử về cùng tội danh đánh bạc), nên HĐXX không chấp nhận nội dung kháng cáo này của các bị cáo cũng như luận cứ bào chữa của Luật sư Đức người bào chữa cho bị cáo Lê theo nội dung luận cứ gửi cho HĐXX tại phiên tòa.
[4] về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tiếp tục quy trữ tạm giữ của mỗi bị cáo số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyên Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng để đảm bảo thi hành án về án phí.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Do được chấp nhận một phần kháng cáo, nên các bị cáo M và Lê không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Chấp nhận một kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Thanh M và Trương Thị Hồng L2; Sửa bản án sơ thẩm giảm một phần hình phạt cho các bị cáo;
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:Bị cáo Lê Thị Thanh M: 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt giam để thi hành án.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Hồng L2:06 (Sáu) tháng tùvề tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt giam để thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 1406 BLTTHS.
- Tiếp tục quy trữ tạm giữ của mỗi bị cáo số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo các BL thu tiền số: 1541 và 1542 ngày 18/02/2025 để đảm bảo thi hành án về án phí.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Lê Thị Thanh M và Trương Thị Hồng L2 không phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - VKSND thành phố Đà Nẵng;
- - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
- - VKSND huyện Hòa Vang,
- - Công an huyện Hòa Vang;
- - PV27; PC81 Công an TP. Đà Nẵng;
- - TAND huyện Hòa Vang;
- - THA DS huyện Hòa Vang;
- - Sở Tư pháp TPĐN;
- - Bị cáo;
- - Lưu: HS; HСТР.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 21/2025/HS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 21/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thanh Miền và đồng phạm
