Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HSST

Ngày: 17/3/2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Quang

  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải.

  • 2. Bà Nguyễn Thị Thanh.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy L - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 06/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thanh C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987;

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã T, huyện Ý, tỉnh Nam Định.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông Lê Quang N và bà Trần Thị L1; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

(1) Năm 2013 bị Tòa án nhân nhân quận T, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại bản án số 143/2013/HSST ngày 12/9/2013.

(2) Năm 2016 bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 166/2016/HSST ngày 30/6/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/9/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại:

  1. Bà Tạ Thị T, sinh năm 1947; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố Tân Thịnh, phường Tân Hương, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

  2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1954 (đã chết)

    Người đại diện hợp pháp của ông H:

    • - Bà Tạ Thị H1, sinh năm 1952; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

    • - Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

    • - Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

    • - Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

    (Bà H1, chị H2, anh N1, anh T1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

  3. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1958; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Bá Thị H3, sinh năm 1985; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng:

  1. Anh Trần Trọng T2, sinh năm 1986; (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

  2. Anh Nguyễn Văn L3, sinh năm 2002; (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

* Người chứng kiến:

  • Ông Trần Văn K, sinh năm 1966 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 19/9/2024, Lê Thanh C đi từ nhà đến thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để tìm việc làm. Sau khi xuống xe khách tại ngã tư N, thành phố P thì C đi về phía khu công nghiệp Y, thành phố P. Khi đến khu vực nút giao Y, C nảy sinh ý định tìm tài sản của người dân để sơ hở thì trộm cắp. C đi đến tổ dân phố T, phường T, thành phố P thì phát hiện thấy 01 (một) chiếc xe đạp gắn nhãn mác Tâm Tâm ở sân nhà bà Tạ Thị T không có ai trông coi. Sau đó C đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe đạp của bà T và sử dụng chiếc xe đạp này tiếp tục tìm tài sản của người dân để trộm cắp. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, C đi xe đạp của bà T qua nhà ông Nguyễn Văn H thì thấy không có ai ở nhà. C đi vào khu vực sân nhà ông H trộm cắp được 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, BKS 20H1-049.38 và để lại chiếc xe đạp của bà T ở sân nhà ông H. Sau đó C điều khiển chiếc xe mô tô BKS 20H1-049.38 của ông H đi tìm nơi tiêu thụ. Khoảng 13 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô đi đến nhà bà Nguyễn Thị L2 mua nước uống, khi ngồi uống nước ở bàn trước cửa nhà bà L2 thấy không có người trông coi nên C tiếp tục trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI A1 của bà L2 để trên bàn uống nước, rồi điều khiển xe mô tô bỏ trốn. Sau khi phát hiện tài sản bị mất trộm điện thoại, con trai bà L2 là anh Trần Trọng T2 đã truy tìm, phát hiện ra C, anh T2 đã yêu cầu C quay trở lại nhà bà L2 rồi trình báo sự việc cho Công an phường T, thành phố P đến giải quyết. Công an phường T đã tiến hành lập biên bản sự việc, tạm giữ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI A1 màu đen, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đen-đỏ, BKS: 20H1-049.38.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản: Ngày 19/9/2024, ông Nguyễn Văn H đã làm đơn trình báo và giao nộp 01 (một) xe đạp, loại xe nữ, phần khung xe có màu sơn xanh cửu long của bà Tạ Thị T mà C đã bỏ lại tại sân nhà ông H cho Công an phường Đ để giải quyết. Ngày 20/9/2024, bà Tạ Thị T đã làm đơn trình báo Công an thành phố P đề nghị giải quyết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 102/KLĐG ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, kết luận: Giá trị 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI A1, kiểu máy 220733SG, IMEI 1: 863941067320680, IEMI 2: 863941067320698; điện thoại đã qua sử dụng, hiện trạng còn nguyên vẹn hoạt động bình thường. Giá trị còn lại của điện thoại là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 103/KLĐG ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, BKS: 20H1-049.38; màu sơn đen – đỏ; số mày: 5C63-567058; số khung: Y567002. Phương tiện đã qua sử dụng, năm sản xuất 2011; hiện trạng phương tiện còn nguyên vẹn và hoạt động bình thường. Giá trị còn lại của phương tiện là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 104/KLĐG ngày 24/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, kết luận: Giá trị 01 chiếc xe đạp, loại xe nữ, phần khung xe có màu sơn xanh cửu long, xe đạp được lắp ráp từ nhiều phụ tùng có nhãn mác, chủng loại khác nhau. Xe đạp đã cũ, đã qua sử dụng; hiện trạng xe đạp còn nguyên vẹn và hoạt động bình thường. Giá trị còn lại của xe đạp là 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án:

01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI A1, kiểu máy 220733SG, IMEI 1: 863941067320680, IEMI 2: 863941067320698; 01 (một) xe đạp, loại xe nữ, phần khung xe có màu sơn xanh cửu long và 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, BKS 20H1-049.38, màu sơn đen – đỏ, số mày: 5C63-567058, số khung: RLCS5C63BY567002. Các vật chứng nêu trên đã được trả cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Tạ Thị T, bà Nguyễn Thị L2 và chị Bá Thị H3 là con dâu ông Nguyễn Văn H quản lý, sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu Lê Thanh C phải bồi thường thiệt hại gì.

Với nội dung nêu trên, Bản Cáosố 11/CT-VKSPY ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Lê Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173, Điều 38 Bộ luật hìnhSự phạt bị cáo Lê Thanh C từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị nên không xem xét. Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh C đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nói lời sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, bị hại là ông Nguyễn Văn H đã chết. Do vậy, Tòa án đã đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H là bà Tạ Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn N1, anh Nguyễn Văn T1 vào tham gia tố tụng.

Tại phiên toà các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, những người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt nhưng đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tốhình sự, HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người này theo quy định.

[3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Thanh C tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 13 giờ 30 phút ngày 19/9/2024, Lê Thanh C đã liên tục ba lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại phường T, phường Đ và phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Trong đó: C trộm cắp 01 (một) xe đạp gắn mác Tâm Tâm, loại xe nữ, phần khung xe có màu sơn xanh cửu long có giá trị 120.000 đồng; trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, BKS: 20H1-049.38; màu sơn đen – đỏ có giá trị 7.500.000 đồng và trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI A1, kiểu máy 220733SG có giá trị 500.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản do C trộm cắp nêu trên là 8.120.000 đồng (Tám triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Ngay sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì C đã bị phát hiện xử lý.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Thanh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hìnhsự.

Nội dung điều luật quy định:

Điều 173 Bộ luật hìnhsự.

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ là bệnh binh hạng hai, được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, huy chương chiến sĩ giải phóng. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS.

[6] Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Lê Thanh C là người có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản. Năm 2013 bị Tòa án nhân nhân quận T, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tiếp tục đến năm 2016 bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, mới chấp hành xong hình phạt ngày 26/9/2018 được trở về địa phương. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân, mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Điều này chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, khó cải tạo, nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hìnhsự: “5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

[9] Về vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI A1; 01 (một) xe đạp, loại xe nữ, phần khung xe có màu sơn xanh cửu long và 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, BKS 20H1-049.38, màu sơn đen – đỏ đều đã được Cơ quan điều tra trả lại cho các chủ sở hữu, sử dụng hợp pháp. Việc trả lại của Cơ quan điều tra là đúng nên HĐXX không xem xét

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.

[12] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  1. Về hình phạt:

    - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hìnhsự; Xử phạt:

    Bị cáo Lê Thanh C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 25/9/2024.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật tốhình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Lê Thanh C 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

  2. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thanh C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;

  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;

  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;

  • - VKSND thành phố Phổ Yên;

  • - Công an thành phố Phổ Yên;

  • - Chi cục THADS thành phố Phổ Yên;

  • - Bị cáo; bị hại;

  • - Người có QLNVLQ;

  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 21/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 15 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger