|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HS-ST
Ngày: 17-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thơ.
- Ông Nguyễn Phú Hữu.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Dương Lâm Thiên T - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/HSST-QĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: La Hữu T1 (Tài H), sinh năm 1997, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú: Khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông La Quốc T2 và bà Nguyễn Thị N; Vợ, Con: Chưa có; Tiền án: Ngày 12/8/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 26/2022/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 15/3/2024; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/4/2017, bị Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 23 tháng, chấp hành xong ngày 28/6/2018; Bị bắt, tạm giam: Ngày 29/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Thành T3, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Cư trú: Số B, đường C, tổ A, khóm A, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Nguyễn Tấn T4, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Cư trú: Tổ 14, khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
La Hữu T1 là người nghiện ma túy và có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bản thân mới chấp hành án xong, không có việc làm nên T1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 19/8/2024, La Hữu T1 một mình đi xe buýt từ thành phố S đến khu V, thành phố C, với mục đích tìm tài sản để trộm cắp nên T1 đội nón bảo hiểm đi bộ trên đường C hướng về chợ M, thành phố C tìm tài sản không có người trông coi để lấy trộm.
Khi đến gần cửa hàng T7 “Phạm Mỹ T5” tại số B, đường C, Tổ A, Khóm A, Phường A, thành phố C thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu XIONGSHI màu nâu (kiểu dáng Dream), biển số 66F8-9496 của anh Nguyễn Thành T3 đang đậu phía trước cửa hàng, không có người trông coi và trên xe có cắm chìa khoá nên T3 quan sát không thấy ai trông coi và đã lén lút đi đến tiếp cận, ngồi lên xe, mở khoá xe rồi dùng chân đạp cần đạp để khởi động xe nhiều lần nhưng xe không nổ máy được nên xe chưa di chuyển được. Lúc này, anh Nguyễn Thành T3 phát hiện, từ trong cửa hàng chạy ra truy hô nên T3 bỏ chạy thì bị anh Thành T3 và một số người dân bắt giữ, báo cho Công an phường A1, thành phố C lập biên bản.
Tại Kết luận định giá số 851/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu XIONGSHI màu nâu, biển số 66F8-9496, số khung: XS100-3300.7551, số máy: 150FMG-0160.7567, đã qua sử dụng, tại thời điểm chiếm đoạt có giá: 1.533.333 đồng.
Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu XIONGSHI màu nâu (kiểu dáng Dream), biển số 66F8-949 do anh Nguyễn A đứng tên đăng ký xe, ông Nguyễn Anh B lại cho anh Nguyễn Thành T3 đã lâu nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ đăng ký xe. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Nguyễn Thành T3 và anh Thành T3 đã nhận xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Kết luận giám định USB lưu trữ một tệp tin video ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo La Hữu T1 số 1735/KL-KTHS ngày 17/12/2024, kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa. Sau khi giám định Cơ quan điều tra thu giữ lưu hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra bị cáo La Hữu T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên; phù hợp với biên bản làm việc; vật chứng thu giữ; Kết luận định giá tài sản; biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường; lời khai người bị hại; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKS-TPCL ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo La Hữu T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Kết luận định giá tài sản, sơ đồ, bản ảnh, biên bản dựng lại hiện trường, biên bản làm việc, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
La Hữu T1 là người đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/8/2024 tại trước cửa hàng T7 “Phạm Mỹ T5” thuộc số B, đường C, tổ A, khóm A, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo La Hữu T1 lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của anh Nguyễn Thành T3 là chủ sở hữu, người quản lý tài sản và lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu XIONGSHI màu nâu, biển số 66F8-9496, có giá trị là 1.533.333 đồng của bị hại là Nguyễn Thành T3 mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tuy nhiên khi T3 tiếp cận, ngồi lên xe, mở khoá xe rồi dùng chân đạp cần đạp để khởi động xe nhiều lần nhưng xe không nổ máy được nên chưa di chuyển được thì bị anh Nguyễn Thành T3 phát hiện, truy hô, cùng một số người dân bắt giữ, báo cho Công an phường A1, thành phố C lập biên bản, thu giữ cùng tang vật.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác.
Bị cáo La Hữu T1 là người đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích, lẽ ra bị cáo phải tự nhận thức, sửa chữa bản thân và chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật nhưng ngược lại, chỉ vì mục đích vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng mà không phải bỏ công sức lao động như bao người khác, bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu XIONGSHI màu nâu, biển số 66F8-9496, có giá trị là 1.533.333 đồng của bị hại là Nguyễn Thành T3.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo La Hữu T1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;...
a)
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”...
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng, gây thiệt hại về tài sản, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, nhằm để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Bị cáo cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu XIONGSHI màu nâu, biển số 66F8-9496 của bị hại Nguyễn Thành T3, khi bị cáo T3 tiếp cận, ngồi lên xe, mở khoá xe rồi dùng chân đạp cần đạp để khởi động xe nhiều lần nhưng xe không nổ máy được nên chưa dịch chuyển xe mô tô được thì bị phát hiện, bắt giữ là ngoài ý muốn của bị cáo, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15, Điều 57 của Bộ luật hình sự.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi dài tay, bằng vải, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (nột) nón bảo hiểm màu đỏ, phía sau nón có chữ “Nón Sơn”, đã qua sử dụng, do không liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng và không yêu cầu nhận lại.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[8] về các vấn đề khác:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu XIONGSHI màu nâu, biển số 66F8-9496 do anh Nguyễn A đứng tên, Nguyễn A đã bán lại cho anh Nguyễn Thành T3 chưa làm thủ tục sang tên theo quy định, đã giao xe cho anh Thành T3 đã lâu không nhớ rõ thời gian cụ thể. Do Nguyễn A đã bán, đã giao xe cho anh Nguyễn Thành T3 nên không ý kiến, không yêu cầu gì.
Đối với Quyết định số 10/QĐ-XPHC, ngày 07/6/2022 của Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp, về việc xử phạt vi phạm hánh chính đối với bị cáo La Hữi T6; về hành vi trộm cắp tài sản, với số tiền 2.500.000 đồng và dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, với số tiền 2.500.000 đồng; đã tống đạt, giao quyết định cho La Hữu T1 vào ngày 08/6/2024. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, hành vi trộm cắp tài sản và dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản theo Quyết định số 10/QĐ-XPHC, ngày 07/6/2022 của Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã được Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đưa ra xét xử đối với La Hữu T1, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 26/2022/HS-ST, ngày 12/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, đã có hiệu lực pháp luật. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh rút lại tiền sự đối với bị cáo La Hữi T6 là tiền sự: Không là phù hợp nên chấp nhận.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo La Hữu T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo La Hữu T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi dài tay, bằng vải, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (nột) nón bảo hiểm màu đỏ, phía sau nón có chữ “Nón Sơn”, đã qua sử dụng.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/01/2025).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo La Hữu T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hiền |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
