Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THẤT

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 12-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Tần;

Bà Nguyễn Thị Mai.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên toà: Ông Triệu Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đức C, sinh năm 1990 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T và con bà Cấn Thị X; vợ: Nguyễn Thị Thu H; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; D chỉ bản số 354 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 19-4-2016 Công an huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi "đánh bạc”.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, tạm giam từ ngày 5-9-2024 đến ngày 22-01-2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Thị C1, sinh năm 1962 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn B, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn H1 (đã chết) và bà Cấn Thị B (tên gọi khác Cấn Thị N, đã chết); chồng: Cấn Văn L (đã chết); con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1994; D chỉ bản số 360 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt 06 tháng tù

1

về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày 12-9-2017. Phạt bổ sung 3.000.000 đồng và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (Bản án số 63/2017/HSST ngày 12-9-2017). Ngày 23-9-2022 đã nộp tiền phạt và án phí (đương nhiên được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, tạm giam từ ngày 5-9-2024 đến ngày 22-01-2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn N, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N1 và con bà Cấn Thị T2; Chồng: Cấn Văn Đ (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2001; D chỉ bản số 363 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ);

Tiền án: Ngày 29-3-2017 Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, đã nộp tiền phạt và án phí ngày 6-9-2024 (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 9-3-2010 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc (bị tạm giam 5 tháng 14 ngày), thời gian thử thách là 19 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, tạm giam từ ngày 5-9-2024 đến ngày 18-11-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Vũ Thị N2, sinh năm 1975 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn Y, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn V và con bà Nguyễn Thị C2 (đã chết); Chồng: Vương Văn B1 (đang chấp hành án phạt tù); con: Có 05 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2010; D chỉ bản số 362 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 18-8-2017 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, đã nộp tiền án phí ngày 24-9-2018 (đương nhiên được xóa án tích).

2

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, tạm giam từ ngày 5-9-2024 đến ngày 10-10-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Công H2, sinh năm 1968 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn N, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N1 và con bà Cấn Thị T2 (đều đã chết); Vợ: Cấn Thị T3; con: Có 05 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2000; D chỉ bản số 355 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24-12-2004 Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án, phạt bổ sung 3.000.000 đồng và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, đã nộp tiền án phí ngày 24-8-2005 và nộp xong tiền phạt ngày 20-6-2005 (đương nhiên được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, tạm giam từ ngày 5-9-2024 đến ngày 10-10-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6. Nguyễn Đức K, sinh năm 1986 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T4 và con bà Nguyễn Thị T5; Vợ: Tống Thị M; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012; D chỉ bản số 356 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 19-4-2016 Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, đến ngày 5-9-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

7. Nguyễn Văn T6, sinh năm 1972 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn N, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T7 và con bà Nguyễn Thị B2; Vợ: Cấn Thị H3; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2001; D chỉ bản số 359 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, đến ngày 5-9-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

8. Lê Quý N3, sinh năm 1979 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Kiến T8 (đã chết) và con bà Đỗ Thị L1; Vợ: Lê Thị Bích N4;

3

con: Có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; D chỉ bản số 358 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, đến ngày 5-9-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

9. Trần Văn C3, sinh năm 1983 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn K1 (đã chết) và bà Đặng Thị T9; Vợ, con: Chưa. D chỉ bản số 357 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, đến ngày 5-9-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

10. Nguyễn Thị T10, sinh năm 1966 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn B, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C4 và bà Chu Thị N5 (đều đã chết); Chồng: Bùi Văn T11; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1989; D chỉ bản số 361 lập ngày 5-9-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27-8-2024, đến ngày 5-9-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

11. Nguyễn Văn L2, sinh năm 1978 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L3 và bà Lê Thị H4; Vợ: Nguyễn Thị H5; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2016; D chỉ bản số 407 lập ngày 9-10-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30-9-2024, đến ngày 9-10-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

12. Nguyễn Văn T12, sinh năm 1990 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S và bà Đỗ Thị B3; Vợ: Nguyễn Thị Thu H6; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; D chỉ bản số 408 lập ngày 9-10-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30-9-2024, đến ngày 9-10-2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

13. Nguyễn Văn M1, sinh năm 1976 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H7 và bà Đỗ Thị T13 (đều đã chết); Vợ: Lê Thị

4

V1; con: Có 01 con sinh năm 2016; D chỉ bản số 503 lập ngày 21-12-2024 tại Công an huyện T (cũ); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-12-2024, đến ngày 22-01-2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Chị Trần Thị Vân A, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ A Y, Cầu G, thành phố Hà Nội (có mặt);

2. Ông Lê Văn S1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 27-8-2024, bị cáo Nguyễn Đức C rủ các bị cáo Trần Văn C3, Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn T12, Lê Quý N3 đến khu vực đường Đ thuộc thôn K, xã K, T để đánh bạc thì các bị cáo C3, K, T12, N3 đồng ý. Sau đó, C gặp bị cáo Bùi Thị C1 bảo Cam chuẩn bị các đồ dùng như thuốc lá, nước cho các con bạc sử dụng trong quá trình đánh bạc thì C1 đồng ý. Bị cáo C1 đi mua nước thì gặp bị cáo Nguyễn Thị T10 nên rủ bị cáo T10 đi cùng đến chỗ đánh bạc. Sau đó các bị cáo C, C3, K, T12, N3 cùng đến địa điểm đánh bạc gặp các bị cáo C1, T10. Tại đây, C1 lấy bạt trải ra đường đất để dùng vào việc đánh bạc, C sử dụng số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và cắt 04 quân vị hình tròn từ bao thuốc lá để xóc cái cho các bị cáo C3 (sử dụng 4.200.000 đồng), K (sử dụng số tiền 2.500.000 đồng), T12 (sử dụng số tiền 700.000 đồng), N3 (sử dụng số tiền 500.000 đồng), T10 (sử dụng số tiền 400.000 đồng) tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa. Sau đó, bị cáo Nguyễn Văn M1 đến và sử dụng số tiền 800.000 đồng tham gia đánh bạc, M1 đánh được khoảng 3-4 ván thì ra về trước, khi ra về M1 đang hòa tiền.

Sau đó, lần lượt có thêm các bị cáo: Nguyễn Văn L2 (sử dụng số tiền 1.000.000 đồng), Nguyễn Công H2 (sử dụng số tiền 5.000.000 đồng), Nguyễn Văn T6 (sử dụng số tiền 10.600.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng mượn của H2), Nguyễn Thị T1 (sử dụng số tiền 3.000.000 đồng), Vũ Thị N2 (sử dụng số tiền 9.600.000 đồng) đến tham gia đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 40.300.000 đồng. Quá trình đánh bạc, C yêu cầu các con bạc phải nộp 200.000 đồng tiền hồ phế và đã thu được 1.800.000 đồng của các bị cáo gồm: C, K, L2, T12, C3, M1, T6, T1, N2. Sau đó, C đưa tất số tiền hồ phế thu được cho C1 và bảo C1 đưa cho ông Lê Văn S1 là người chăn bò gần đó số tiền 800.000 đồng nhưng không nói cho ông S1 biết đây là tiền hồ phế của các con bạc, còn lại số tiền 1.000.000 đồng C1 đã mua nước uống, thuốc cho các con bạc hết 255.000 đồng (nhưng chưa trả tiền) còn lại số tiền 745.000 đồng Cam được hưởng lợi.

5

Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an huyện T kiểm tra bắt quả tang lập biên bản thu giữ gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn và thu giữ trên chiếu bạc số tiền 18.500.000 đồng. Kiểm tra người các bị cáo thu giữ tổng số tiền 18.500.000 đồng, các bị cáo khai nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình bắt quả tang, chị Trần Thị Vân A có mặt tại xới bạc nhưng không tham gia đánh bạc, các bị can L2 và T12 bỏ chạy. Lực lượng Công an đã lập biên bản và đưa các bị cáo về trụ sở để làm rõ. Sau đó, ông S1 đến làm việc và giao nộp số tiền 800.000 đồng.

Ngày 30/9/2024, L2 và T12 đến cơ quan Công an đầu thú và giao nộp số tiền 1.700.000 đồng sử dụng để đánh bạc (trong đó T12 giao nộp 700.000 đồng, L2 giao nộp 1.000.000 đồng).

Hình thức đánh bạc: Người xóc cái sử dụng 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn có 02 mặt giống nhau. Người xóc cái sẽ cho 04 quân vị vào bên trong đĩa sứ rồi úp bát sử lên trên. Người xóc cái cầm bát và đĩa xóc lên, xuống nhiều lần rồi đặt xuống trước mặt để các con bạc tham gia đặt cửa chẵn lẻ (chẵn bên phải người xóc cái, lẻ bên trái người xóc cái). Sau khi các con bạc đặt cửa xong thì người xóc cái sẽ mở bát, nếu có 02 hoặc 04 quân vị cùng mặt thì kết quả là chẵn, nếu có 03 quân vị cùng mặt thì về cửa lẻ. Người xóc cái sẽ thu tiền của các con bạc thua và trả tiền cho các con bạc thắng theo tỉ lệ 1:1.

Tang vật thu giữ: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn, 01 bạt màu xanh và số tiền 39.500.000 đồng.

Đối với ông Lê Văn S1, khi được C1 đưa số tiền 800.000 đồng thì ông S1 không biết đây là tiền các đối tượng đánh bạc nộp hồ phế cho C. Ông S1 không bàn bạc và cũng không được giao nhiệm vụ canh gác xới bạc nên không đồng phạm với C về tội Tổ chức đánh bạc.

Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất truy tố:

  • - Bị cáo Nguyễn Đức C về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
  • - Bị cáo Bùi Thị C1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
  • - Các bị cáo Nguyễn Thị T1, Vũ Thị N2, Nguyễn Công H2, Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn T6, Lê Quý N3, Trần Văn C3, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn T12 và Nguyễn Văn M1 về tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều khai nhận như nội dung vụ án đã nêu và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản kết luận điều tra và cáo trạng của

6

Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã quy kết. Các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin được hưởng lượng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên tòa khẳng định có đầy đủ căn cứ truy tố Nguyễn Đức C về tội “Đánh bạc” và tội “Tổ chức đánh bạc”; Bùi Thị C1 về tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Thị T1, Vũ Thị N2, Nguyễn Công H2, Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn T6, Lê Quý N3, Trần Văn C3, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn T12 và Nguyễn Văn M1 về tội “Đánh bạc”; sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 6 tháng tù đến 9 tháng tù về tội Đánh bạc; từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tổ chức Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Thị C1 từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng về tội Tổ chức đánh bạc.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 từ 7 tháng tù đến 9 tháng tù về tội Đánh bạc.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Vũ Thị N2 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng về tội Đánh bạc.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Nguyễn Công H2 từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng về tội Đánh bạc.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T6 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng về tội Đánh bạc.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng về tội Đánh bạc.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Văn C3 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng về tội Đánh bạc.

7

  • Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L2 từ 09-12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc
  • Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T12 từ 09-12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc.
  • Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M1 từ 09-12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc.
  • >
  • Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 BLHS. Xử phạt bị cáo Lê Quý N3 từ 09-12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc.
  • Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T10 từ 06-09 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 27-8-2024 tại khu vực đường Đ thuộc thôn K, xã K, huyện T, thành phố Hà Nội, Nguyễn Đức C có hành vi chuẩn bị bát sứ, đĩa sứ, quân vị để tổ chức đánh bạc bằng hình thức sóc đĩa và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng tham gia đánh bạc với vai trò người sóc cái. Bùi Thị C1 có hành vi trải bạt cho các con bạc ngồi đánh bạc, mua nước, thuốc phục vụ các con bạc trong quá trình đánh bạc và hưởng lợi 745.000 đồng từ tiền thu hồ, phế nên đồng phạm với C về tội Tổ chức đánh bạc. Trần Văn C3 sử dụng số tiền 4.200.000 đồng; Nguyễn Đức K sử dụng số tiền 2.500.000 đồng; Nguyễn Văn T12 sử dụng số tiền 700.000 đồng; Lê Quý N3 sử dụng số tiền 500.000 đồng; Nguyễn Thị T10 sử dụng số tiền 400.000 đồng; Nguyễn Văn M1 sử dụng số tiền 800.000 đồng; Nguyễn Văn L2 sử dụng số tiền

8

1.000.000 đồng; Nguyễn Công H2 sử dụng số tiền 5.000.000 đồng; Nguyễn Văn T6 sử dụng số tiền 10.600.000 đồng ; Nguyễn Thị T1 sử dụng số tiền 3.000.000 đồng và Vũ Thị N2 sử dụng số tiền 9.600.000 đồng tham gia đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 40.300.000 đồng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất truy tố Nguyễn Đức C về tội “Đánh bạc” và tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 và điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Bùi Thị C1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị T1, Vũ Thị N2, Nguyễn Công H2, Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn T6, Lê Quý N3, Trần Văn C3, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn T12 và Nguyễn Văn M1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ tội phạm và năng lực chịu trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó Nguyễn Đức C là người khởi xướng, chuẩn bị dụng cụ đánh bạc, giao nhiệm vụ cho Bùi Thị C1 lo thuốc, nước để phục vụ việc đánh bạc, thu tiền hồ phế, trực tiếp rủ C3, K, T12, N3 đánh bạc và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng tham gia đánh bạc ở vị trí người sóc cái nên giữ vai trò tích cực nhất. Bị cáo C1 có hành vi trải bạt, mua nước, thuốc phục vụ việc đánh bạc và hưởng lợi số tiền 745.000 đồng từ tiền thu hồ phế nên có vai trò thấp hơn C về tội Tổ chức đánh bạc. Các bị cáo khác tham gia đánh bạc nên có vai trò ngang nhau và chịu trách nhiệm tương ứng với số tiền tham gia đánh bạc.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thị T1 có nhân thân xấu, ngày 9-3-2010 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích). Ngày 29-3-2017 Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt 05 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, chưa được xóa án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Đức K năm 2016 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, kết quả xác minh tại Ngân hàng N6 Chi nhánh huyện T không có thông tin nộp phạt của C, K. Không có căn cứ xác định C, K đã nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Căn cứ khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 36 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi thì đến nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Đối với Nguyễn Công H2 từ thời điểm năm 2004 đến tháng 7/2024; Bùi Thị C1, Vũ Thị N2 từ năm 2017 đến tháng 7/2024 thì các bị cáo đã chấp hành xong bản án, trong thời gian trên không vi

9

phạm pháp luật nên được xóa án tích và được coi là không có tiền án, tiền sự. Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn T6, Lê Quý N3, Trần Văn C3, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn T12 và Nguyễn Văn M1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L2, T12 khi công an bắt do hoảng sợ đã bỏ chạy sau đó đến công an đầu thú và nộp tiền thu lời bất chính, bị cáo C1 đã tự nguyện nộp tiền thu lời bất chính. Bị cáo L2 có mẹ đi thanh niên xung phong được tặng kỷ niện chương; Bị cáo T1, H2, T6, N3 có bố là người có công nên các bị cáo L2, T12, C1, T1, H2, T6, N3 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện thấy bị cáo Nguyễn Đức C là người khởi xướng, tổ chức việc đánh bạc và tham gia đánh bạc với vai trò người sóc cái, bị cáo phạm hai tội trong cùng một vụ án; Bị cáo Nguyễn Thị T1 đã hai lần bị kết án về tội đánh bạc, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo C, T1 khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp nhằm răn đe và giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX cũng xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo C, T1 luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo C không hưởng lợi từ việc thu tiền hồ phế; bị cáo T1 có bố là người có công để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị cáo Bùi Thị C1, Vũ Thị N2, Nguyễn Công H2 tuy có 01 tiền án, Nguyễn Đức K tuy có 01 tiền sự nhưng đã được xóa, bị cáo C1 số tiền hưởng lợi không lớn, đã tự nguyện nộp tiền thu lời bất chính, đã bị tạm giam 4 tháng 25 ngày, bị cáo N2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, chồng đang chấp hành án, bị cáo nuôi con bị tàn tật. Bị cáo H2 có bố là người có công. Các bị cáo C1, N2, H2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo K có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 đủ điều kiện áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý, giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T6, Trần Văn C3 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo T6 có bố là người có công, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có

10

nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo T6, C3 được hưởng án treo là phù hợp.

Đối với các bị cáo Lê Quý N3, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn T12 và Nguyễn Văn M1 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T12, L2 đầu thú, tự nguyện nộp tiền thu lời bất chính. Bị cáo N3 có bố, bị cáo L2 mẹ là người có công; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền mỗi bị cáo dùng đánh bạc không lớn nên chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với các bị cáo và miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với các bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số tang vật đã thu giữ gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn, 01 bạt màu xanh. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền tang vật sử dụng để đánh bạc 39.500.000 đồng (tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 40/THADS/2025 ngày 26-02-2025 và ủy nhiệm chi số 72 ngày 24-2-2025). Xác nhận bị cáo Bùi Thị C1 nộp số tiền thu lời bất chính 745.000 đồng để sung quỹ Nhà nước theo biên lai số 0017737 ngày 7-3-2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M1 phải nộp lại số tiền dùng vào việc đánh bạc 800.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; Bị cáo Bùi Thị C1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Nguyễn Thị T1, Vũ Thị N2, Nguyễn Công H2, Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn T6, Lê Quý N3, Trần Văn C3, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn T12Nguyễn Văn M1 phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; khoản 1 Điều 321; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27-8-2024 đến ngày 22-01-2025.
  • - Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Thị C1 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

11

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Thị T1 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27-8-2024 đến ngày 18-11-2024.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt Vũ Thị N2 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Công H2 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn T6 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Đức K 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Văn C3 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Bùi Thị C1, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Công H2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao các bị cáo Nguyễn Đức K, Trần Văn C3 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã K giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Vũ Thị N2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Quý N3 09 tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian 9 ngày tạm giữ từ ngày 27-8-2024 đến 5-9-2024 quy đổi

12

bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 8 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn T12 09 tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian 9 ngày tạm giữ từ ngày 30-9-2024 đến 9-10-2024 quy đổi bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 8 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn M1 09 tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian 32 ngày tạm giam từ ngày 21-12-2024 đến 22-01-2025 quy đổi bằng 96 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 5 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn L2 09 tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian 9 ngày tạm giữ từ ngày 30-9-2024 đến 9-10-2024 quy đổi bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 8 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Thị T10 06 tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian 9 ngày tạm giữ từ ngày 27-8-2024 đến 5-9-2024 quy đổi bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 5 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không gian giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao người bị kết án cho UBND xã C, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao các bị cáo Lê Quý N3, Nguyễn Văn T12, Nguyễn Văn M1Nguyễn Văn L2 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã K giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Thị T10 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P giám sát, giáo dục bị cáo.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M1 nộp lại số tiền dùng đánh bạc là 800.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Xác nhận bị cáo Bùi Thị C1 đã nộp số tiền thu lời bất chính 745.000 đồng sung quỹ Nhà nước theo biên lai số 0017737 ngày 7-3-2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.

13

  • - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số tang vật đã thu giữ gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị hình tròn, 01 bạt màu xanh. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền tang vật sử dụng để đánh bạc 39.500.000 đồng (tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận tài sản, tang vật số 40/THADS/2025 ngày 26-02-2025 và ủy nhiệm chi số 72 ngày 24-02-2025).
  • - Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Đức C, Bùi Thị C1, Nguyễn Thị T1, Vũ Thị N2, Nguyễn Công H2, Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn T6, Lê Quý N3, Trần Văn C3, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn T12 và Nguyễn Văn M1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thạch Thất (02 bản để gửi VKS VKSND Thành phố Hà Nội 01 bản);
  • - Trại tạm giam số 01, CATP Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - CC THADS huyện Thạch Thất;
  • - UBND các xã Bình Yên, Phú Kim, Kim Quan, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; VP. Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Tạ Thị Thịnh

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức C và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger