Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 10 - 3 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bích
2. Ông Tống Xuân Quyết

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Phương Thảo – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Nhữ Hồng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm số hóa công khai theo hình thức trực tuyến kết nối điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện H và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh T vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Việt D (tức Tráng Văn D1); sinh ngày 29/11/1979; nơi sinh: tỉnh Hà Giang.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Ý H, sinh năm 1945 và bà: Trần Thị Q, sinh năm 1951; có vợ: Thàm Thị N, sinh năm 1982 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

  • Bản án số 131/2018/HS-ST ngày 12/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
  • Bản án số 14/2021/HS-ST ngày 02/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản
  • Bản án số 59/2021/HS-ST ngày 26/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 14/2021/HSST, buộc bị cáo phải chấp hành 02 năm 06 tháng tù, ngày 28/3/2023 chấp hành xong hình phạt tù (Bản án xác định tái phạm);

Nhân thân:

  • Bản án số 46/HSST ngày 14/5/2003, Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố T), tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
  • Bản án số 13/HSPT ngày 18/11/2003, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang (xét xử phúc thẩm Bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 29/8/2003 của Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang (nay là thành phố H) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Bản án số 37/2008/HSST ngày 27/11/2008 Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Bản án số 06/2011/HSST ngày 22/9/2011 Tòa án nhân dân huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 741/QĐ-XPHC ngày 17/5/2018 của Phòng Cảnh sát ĐTTP về ma túy Công an tỉnh H về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 305/QĐ-XPHC ngày 16/10/2018 của Công an thành phố T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 19/10/2024, Trương Việt D một mình đi xe ô tô khách từ nhà đến thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bên xe khách thành phố T, D xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua được 02 gói ma túy, trong đó 01 gói bằng giấy màu trắng, gói còn lại bằng giấy bạc màu trắng với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, D đi xe khách về nhà, đến K Quốc lộ B Tuyên Quang - Hà Giang, thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, D xuống xe đi vào khu bãi rác lấy một ít ma túy ra để sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể (01 bơm kim tiêm và 01 ống nước cất D mang đi từ nhà, sau khi sử dụng D không nhớ rõ vứt ở đâu), số ma túy còn lại D gói lại như cũ và để vào túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người. Hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, D đang đón xe khách đi về nhà thì gặp tổ công tác Công an huyện H phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ số ma túy trên.

Ngày 19/10/2024, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Trương Việt D kết quả: (+) dương tính với ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 1422/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật thu giữ của Trương Việt D gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H); khối lượng 0,393g (không phẩy ba chín ba gam).

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSHY, ngày 14/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Trương Việt D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Việt D theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Trương Việt D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Việt D từ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (19/10/2024).
  • Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong bên trong chứa ma tuý.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Việt D tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Việt D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:

Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 19/10/2024, tại Km44 Quốc lộ B Tuyên Quang - Hà Giang, thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Trương Việt D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,393g (không phẩy ba chín ba gam), mục đích để sử dụng.

Do Bản án số 59/2021/HS-ST ngày 26/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản xác định là tái phạm, tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 14/2021/HSST, buộc bị cáo phải chấp hành 02 năm 06 tháng tù. Ngày 28/3/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nên với hành vi phạm tội lần này của bị cáo được xác định là tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hình sự, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của nhà nước và có thể là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bị cáo là người có 3 tiền án, nhân thân xấu, bị các Toà án nhân dân các cấp xử phạt nhiều lần về các hành vi “Trộm cắp tài sản”. “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị Cơ quan công an xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại của Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,393g (không phẩy ba chín ba gam) Heroin. Sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì là vật chứng của vụ án, thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, ngày 26/12/2024, Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 42/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt Cảnh cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên thuộc phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trương Việt D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Việt D 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (19/10/2024).

3. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong bên trong chứa ma tuý (Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang).

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện H;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện H;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp TQ;
  • - Lưu HSVA, HSTHAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Việt D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger