Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-PT

Ngày: 07/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hữu;

Ông Lâm Tấn Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Thanh P - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 07/3/2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, điểm cầu thành phần trại tạm giam công an tỉnh S xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 02/2025/TLPT-HS ngày 03/01/2025 đối với các bị cáo Thạch Vi L, Thạch Vi L1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Thạch Vi L, sinh ngày 24/7/2000 tại thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Khóm Cà Lăng A, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch M và bà Sơn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2024 cho đến nay. (có mặt tại điểm cầu thành phần)
  2. Thạch Vi L1, sinh ngày 15/01/1992 tại thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Khóm Cà Lăng A, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch M và bà Sơn Thị T; Bị cáo có vợ và 01 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2024 cho đến nay. (có mặt tại điểm cầu thành phần)

- Người bào chữa: Bà Lê Thị Trúc L2 - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Địa chỉ Trung tâm: Số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt tại điểm cầu trung tâm)

- Phiên dịch tiếng Khmer: Ông Sơn Si V - Cán bộ đài truyền hình tỉnh S. (có mặt tại điểm cầu trung tâm)

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Các bị hại Lý Mỹ H, Nguyễn Thị C, Phạm Nguyễn Vân Q, Trần Thị Thu B, Nguyễn Kim V1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sơn Thị T, Phan Thanh B1, Phan Văn M1, Nguyễn Thị M2, Trịnh Thị T1, Lý H1; Những người làm chứng Lý Thị Thanh Thanh, Nguyễn Thị Ngọc L3, Chiêm T, Huỳnh Thị Mỹ L4, Nguyễn Kim P1; Người đại diện bà Nguyễn Thanh L5, bà Chiêm Tén D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Thạch Vi L và Thạch Vi L1 thực hiện hành vi cướp giật tài sản của các bị hại trên địa bàn thị xã V, tỉnh Sóc Trăng và huyện V, tỉnh Bạc Liêu, cụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/02/2024, bị cáo Thạch Vi L điều khiển xe mô tô biển số 59N2-844.70 chở bị cáo Thạch Vi L1 lưu thông trên đường T, khi đến đoạn đường thuộc khóm W, phường V, thị xã V ép vào xe mô tô do Huỳnh Thị Mỹ L4 chở Trần Thị Thu B, Thạch Vi L1 giật túi xách của Thu B bên trong có tiền Việt Nam 1.170.000 đồng, 01 sợi dây chuyền (vàng giả) và một số giấy tờ tùy thân. Sau đó, Vi L chở Vi L1 nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường.
  • Lần thứ hai: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/02/2024, bị cáo Vi L điều khiển xe mô tô biển số 59N2-844.70 chở bị cáo Thạch Vi L1 lưu thông vào khu vực Chợ M thuộc Khóm B, Phường A, thị xã V ép vào xe mô tô do Nguyễn Thị Ngọc L3 chở Nguyễn Thị C, Vi L1 giật túi xách của chị C bên trong có số tiền Việt Nam 6.850.000 đồng. Sau đó, Vi L chở Vi L1 nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường.
  • Lần thứ ba: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14/02/2024, bị cáo Vi L điều khiển xe mô tô biển số 59N2-844.70 chở bị cáo Vi L1 lưu thông trên đường L, Phường A, thị xã V ép vào xe mô tô do Chiêm Tài N chở Phạm Nguyễn Vân Q, Vi L1 giật túi xách của chị Q bên trong có tiền Việt Nam 1.100.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. Sau đó, Vi L chở Vi L1 nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã V, kết luận: 01 túi xách da màu đen hiệu Lesac của Phạm Nguyễn Vân Q có giá trị 257.250 đồng.

  • Lần thứ tư: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14/02/2024, bị cáo Vi L điều khiển xe mô tô biển số 59N2-844.70 chở bị cáo Vi L1 lưu thông trên đường Q, khi đến đoạn đường thuộc khóm V, phường V, thị xã V thì áp sát vào xe mô tô do Lý Thị Thanh T2 chở Lý Mỹ H, Vi L1 giật 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone Xsmax màu trắng. Sau đó, Vi L chở Vi L1 nhanh chóng tẩu thoát.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã V, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone Xsmax màu trắng có giá trị 3.000.00 đồng.

  • Lần thứ năm: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/02/2024, bị cáo Vi L điều khiển xe mô tô biển số 59N2-844.70 chở bị cáo Vi L1 lưu thông trên đường Q, khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu thì áp sát vào xe mô tô do Nguyễn Kim P1 chở Nguyễn Kim V1, Vi L1 giật túi xách của chị V1 bên trong có số tiền Việt Nam 2.500.000 đồng. Sau đó, Vi L chở Vi L1 nhanh chóng tẩu thoát.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V các bị cáo Thạch Vi L và Thạch Vi L1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Căn cứ vào điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Các bị cáo Thạch Vi L, Thạch Vi L1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  1. Xử phạt bị cáo Thạch Vi L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.
  2. Xử phạt bị cáo Thạch Vi L1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2024.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định pháp luật.

* Cùng ngày 29/11/2024, các bị cáo Thạch Vi L, Thạch Vi L1 kháng cáo xin giảm hình phạt.

* Tại phiên tòa,

Bị cáo Thạch Vi L giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt, do gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính, đang nuôi con nhỏ, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.

Bị cáo Thạch Vi L1 giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt, do gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Mức án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc, các bị cáo đã ăn năn hối cải, do thiếu suy nghĩ nên mới phạm tội. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo để giảm hình phạt cho các bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Nói lời sau cùng tại phiên toà: Các bị cáo xin được giảm hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của các bị cáo Thạch Vi L, Thạch Vi L1 lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm cùng ngày 29/11/2024 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Trong khoảng thời gian từ 17 giờ 00 phút ngày 14/02/2024 đến khoảng 11 giờ ngày 15/02/2024 trên các tuyến đường Tỉnh lộ 936, đoạn thuộc khóm W, phường V, thị xã V; khu vực Chợ M thuộc Khóm B, Phường A, thị xã V; đường L, Phường A, thị xã V; đường Q thuộc khóm V, phường V, thị xã V; đường Q, khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Vi L điều khiển xe mô tô biển số 59N2-844.70 chở bị cáo Vi L1 05 lần cướp giật tài sản của bà Trần Thị Thu B, Nguyễn Thị C, Phạm Nguyễn Vân Q, Lý Mỹ H, Nguyễn Kim V1 có tổng giá trị là 14.877.250 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận các bị cáo Thạch Vi L, Thạch Vi L1 phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Thạch Vi L, Thạch Vi L1 về việc xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi lượng hình phạt đối với các bị cáo thì cấp sơ thẩm xác định các bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Đồng thời, cấp sơ thẩm xác định các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Các bị cáo là người dân tộc Khmer có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự được quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Các bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà lẽ ra các bị cáo được áp dụng nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng hoặc cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là không đúng. Do đó, kháng cáo của các bị cáo về việc xin giảm hình phạt là không có căn cứ chấp nhận.

[4] Từ những nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận đề nghị của người bào chữa, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Thạch Vi L, Thạch Vi L1 về việc xin giảm hình phạt.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Căn cứ vào điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Xử phạt bị cáo Thạch Vi L 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Thạch Vi L1 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2024.
  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Các bị cáo Thạch Vi L, Thạch Vi L1 được miễn án phí phúc thẩm.
  1. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1-TAND Tối cao (01);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - TAND thị xã Vĩnh Châu (02);
  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu (01);
  • - CQĐT-Công an thị xã Vĩnh Châu (01);
  • - CQTHAHS-Công an thị xã Vĩnh Châu (01);
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - CQTHAHS-Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Lưu HS, THS (04).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Lê Vũ Huy Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 21/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận KC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger