Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 07-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bảo Lâm;
  2. Bà Lâm Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Chiến – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Lê Đăng K, sinh ngày 31 tháng 8 năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: B P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: B P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: xe ôm; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; con ông: Lê K1, sinh năm 1943 và con bà: Đỗ Thị Mỹ H, sinh năm 1951; vợ: Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1980; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019.

    Tiền án:

    • Ngày 19/3/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 70/2013/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/5/2018. Đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí, nộp phạt và nộp lại tiền sung công vào tháng 4/2015.
    • Ngày 06/8/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 92/2020/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2022, chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí vào ngày 09/12/2020.

    Tiền sự: không.

    Nhân thân:

    Ngày 25/8/2005, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 1248/2005/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2007, chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí vào ngày 13/7/2006.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Ngọc K2, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 9 C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: 9 C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; con ông: Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1969 và con bà: Trần Thị Xuân M, sinh năm 1970; vợ: Lê Thị Đào X, sinh năm 1993 (không đăng ký kết hôn); con: 02 con (lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    Ngày 19/9/2013 đến tháng 11/2015, bị cáo bị Công an P, quận T đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trường S1 theo Nghị định 135/CP.

    Ngày 02/3/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 51/2017/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/8/2018, đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí ngày 11/5/2017.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2024 đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  3. Nguyễn Ngọc Duy K3, sinh ngày 19 tháng 12 năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 9 C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: 9 C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; con ông: Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1969 và con bà: Trần Thị Xuân M, sinh năm 1970; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • Ngày 24/8/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm tù về hành vi “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 238/2016/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/4/2017. Đã thi hành xong nghĩa vụ án phí.
    • Năm 2020, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có thời hạn 12 tháng.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  4. Cao Nhựt A, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 2 B, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: 2 B, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông: Cao Đình L, sinh năm 1957 (đã chết) và con bà: Trương Nguyệt H1, sinh năm 1964; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    Năm 2019, bị cáo bị Công an P1, quận T lập hồ sơ đưa đi cai nghiện tự nguyện 02 tháng tại Cơ sở xã hội N.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Xuân M, sinh năm 1970; địa chỉ: 9 C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/4/2024, Công an P, quận T kiểm tra hành chính tầng gác phòng của Nguyễn Ngọc Duy K3 tại số I C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc Duy K3 và Cao Nhựt A có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 01 bình nhựa có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tỉnh, 01 hộp quẹt gas.

Tại thời điểm kiểm tra, Công an P, quận T còn phát hiện đối tượng Nguyễn Ngọc K2 (là anh ruột của K3) có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an phường làm việc.

Ngày 28/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Ngọc K2 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. K2 khai nhận số ma túy K3 và Nhựt A sử dụng là do K2 mua của K tại trước nhà số G C, Phường E, quận T.

Vào lúc 17 giờ cùng ngày, tại trước nhà số G C, Phường E, quận T, Công an P, quận T tiến hành kiểm tra bắt quả tang Lê Đăng K đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy dùng để bán thu lợi bất chính, trong túi quần bên trái có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng có dán 01 gói nilon chứa tinh thể không màu và trong túi đeo chéo của K có chứa 08 gói nilon chứa tinh thể không màu dán trên 08 tờ khăn giấy màu trắng, 08 gói nilon chứa tinh thể không màu dán trên 08 tờ khăn giấy màu nâu. Qua giám định tại Phòng PC09 thì gói nilon chứa tinh thể không màu thu trong túi quần sau bên trái là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4642gam; 16 gói nilon chứa tinh thể không màu thu trong túi đeo chéo là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine có khối lượng 4,2672 gam. Tổng cộng: 4,7314 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (Kết luận giám định số 5243/KL-KTHS ngày 05/5/2024 của Phòng K4, Công an Thành phố H, Bút lục số 265).

Tiến hành khám xét nhà của K tại B P, Phường E, quận T, Cơ quan điều tra thu giữ 10 nỏ thủy tinh không chứa gì. K khai số nỏ trên K dùng để bán cho khách có nhu cầu.

Kết quả xét nghiệm: Lê Đăng K, Nguyễn Ngọc Duy K3, Nguyễn Ngọc K2, Cao Nhựt A dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

1. Về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Lê Đăng K:

Tại Cơ quan điều tra Lê Đăng K khai nhận: Do cần tiền để chi tiêu và ma túy để sử dụng, chiều tối ngày 20/4/2024, K chạy xe gắn máy Click biển số 59P1-577.42 đến gầm cầu N, đường P, Quận H. Tại đây, K gặp 01 người đàn ông (không biết tên) và hỏi mua ma túy. K mua 01 gói ma tuý đá với giá 1.500.000 đồng. K đưa tiền mặt cho người này và nhận lại 01 gói nylon có chứa ma túy đá bên trong. Sau khi mua được ma túy, K chạy về nhà ở số B P, Phường E, quận T rồi phân chia gói ma tuý vừa mua thành 18 gói nhỏ có dán băng keo, gói có dán khăn giấy màu trắng K bán với giá 100.000 đồng/01 gói, gói có khăn giấy màu nâu K bán với giá 150.000 đồng/01 gói. Khoa bán dạo cho các khách có nhu cầu, khách gọi điện thoại cho K rồi hẹn K địa điểm giao ma tuý. Cụ thể:

Khoảng 18 giờ ngày 22/4/2024, K đến ngã tư đường N và A, Phường F, T để bán 02 gói ma tuý loại 100.000 đồng/01 gói cho 01 nam thanh niên (khoảng 30 tuổi, cao 1m7, da trắng, nói giọng lai miền bắc, có xăm tay). Người này trả Khoa 200.000 đồng tiền mặt. Khoảng 18 giờ ngày 23/4/2024, K tiếp tục đến ngã tư đường N và A, Phường F, T để bán 02 gói ma tuý loại 150.000 đồng/01 gói cho nam thanh niên hôm trước và người này trả Khoa 300.000 đồng tiền mặt.

Số ma tuý K mua ngày 20/4/2024 K đã bán hết cho khách, thu lợi bất chính khoảng 1.900.000 đồng, các khách còn lại mua lẻ khoảng 1, 2 gói nên K không nhớ rõ thời gian, địa điểm bán.

Khoảng 18 giờ 00 ngày 25/4/2024, K chạy xe gắn máy Click biển số 59P1-577.42 đến gầm cầu N, đường P, Quận H để mua tiếp của người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói ma túy đá với giá 1.500.000 đồng. K trả tiền mặt rồi đem gói nylon chứa ma tuý đá về nhà ở B P, Phường E, quận T tiếp tục phân thành 18 gói nhỏ: 09 gói có dán khăn giấy màu trắng K bán với giá 100.000 đồng/01 gói, và 09 gói có khăn giấy màu nâu K bán với giá 150.000 đồng/01 gói. Sau đó, K bán 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng cho K2.

2. Về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Ngọc K2, Nguyễn Ngọc Duy K3 và Cao Nhựt A:

Quá trình điều tra, K2, K3 và Nhựt A khai nhận như sau: Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 25/4/2024, Nhựt A (bạn của K3) qua nhà K3 chơi và dự sinh nhật của K2. Tại lầu A, nhà số I Cách mạng T, Phường E, quận T, K2, K3 và Nhựt A cùng nhậu với nhau. Sau đó, Nhựt A đưa cho K2 500.000 đồng và bảo K2 lấy tiền này để mua 200.000 đồng tiền ma tuý đá và 300.000 đồng tiền bia về để sử dụng. K2 đồng ý và dùng điện thoại số 0767.585.xxx vào gọi điện thoại cho K 0937.474.xxx lúc 20 giờ 34 phút ngày 25/4/2024 để mua ma túy của K, sau đó đi bộ ra tiệm tạp hóa gần nhà mua bia và đá. K2 mua hết 300.000 đồng rồi đứng đợi Khoa ở hẻm G C. Khoảng 15 phút sau, K chạy xe máy Click màu đen trắng đến trước số G C, phường E, quận T, K ném 01 tờ khăn giấy màu nâu xuống dưới đất, K2 đi bộ tới chỗ K lấy chân kẹp tờ khăn giấy màu nâu lên rồi mở ra thì thấy bên trong có 01 gói ma túy đá, sau đó K2 trà cho K 200.000 đồng tiền mặt, K nhận tiền rồi chạy đi. K2 vứt tờ khăn giấy màu nâu đi rồi đem bia đá và ma túy đi bộ về nhà số I C, Phường E, quận T rồi lên lầu 1 thì thấy trên sàn nhà đã có 01 bình gắn nỏ thuỷ tinh và ống hút được K3 chế tạo trong thời gian K2 đi mua ma tuý. K2 bỏ ma tuý đá vào nỏ thuỷ tỉnh, dùng bật lửa đốt nỏ thuỷ tỉnh lên rồi dùng miệng hút đầu ống nhựa được cắm sẵn vào chai nhựa để hút. Sau khi K2 hút xong thì đến lượt Nhựt A cũng thao tác giống K2. Nhựt A hút xong thì đến lượt K3. Sau khi cả 03 hút xong thì cùng ngồi uống bia và nói chuyện qua lại với nhau. Trong buổi sử dụng ma tuý, K2, K3 và Nhựt A thay phiên nhau hút ma tuý đá khoảng 02-03 lần. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, K2 bỏ đi xuống dưới nhà, Nhựt A đi về nhà, còn K3 dọn dẹp trên lầu rồi nghỉ ngơi.

Khoảng 18 giờ ngày 26/4/2024, Nhựt A gọi điện thoại rủ K3 nhậu tiếp. K3 đồng ý nên Nhựt A mạng bia đến lầu 1 nhà I C, Phường E, quận T để nhậu. Trong lúc nhậu, K3 lấy bình nhựa gắn nỏ có ma túy mà cả nhóm sử dụng trước đó được cất gần cửa nhà vệ sinh đem ra dưới sân nhà chỗ giữa phòng trên lầu 1 để tiếp tục sử dụng ma túy chung với Nhựt A. Cả 2 hút được khoảng 2 – 3 hơi thì hết ma túy và bia thì ngủ lại tại phòng lầu 1. Khoảng 10 giờ ngày 27/4/2024, Công an P, quận T kiểm tra hành chính nhà số I C, Phường E, quận T phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Ngọc Duy K3 và Cao Nhựt A như trên.

Quá trình điều tra và hỏi cung Lê Đăng K, Nguyễn Ngọc Duy K3, Nguyễn Ngọc K2, Cao Nhựt A thừa nhận toàn bộ hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của mình như trên.

Vật chứng thu giữ:

Vật chứng vụ án đã được liệt kê tại Phiếu nhập kho vật chứng số 118/PNK ngày 20/6/2024 (Bút lục số 283), gồm: 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký, dấu vân tay của Lê Đăng K, hình dấu của Công an P, quận T và chữ ký của giám định viên ghi số 1615/24 (Tang vật ma túy còn lại sau khi giám định);

Thu giữ của Nguyễn Ngọc Duy K3:

  • 01 bình nhựa có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh; 01 hộp quẹt gas màu xanh hiệu BIC; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu trắng. K3 khai bình nhựa có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh cùng hộp quẹt là các dụng cụ K3 dùng để sử dụng ma túy; còn điện thoại là dùng để liên lạc cá nhân, không sử dụng mua ma túy.

Thu giữ của Lê Đăng K:

  • 10 nỏ thủy tinh không chứa gì; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 08 tờ giấy màu nâu, 08 tờ giấy màu trắng. K khai nỏ dùng để bán cho khách có nhu cầu, còn tờ tiền và 16 tờ giấy màu nâu, màu trắng dùng để gói ma túy.
  • 01 xe máy hiệu Click biển số 59P1 – 577.42, qua xác minh chiếc xe thuộc sở hữu của bà Lê Thị Mỹ A1 (chị ruột của K). Làm việc với bà Mỹ A1 được biết do K không có xe đi nên bà cho K mượn để chạy grab. Bà Mỹ A1 không biết việc K sử dụng xe làm phương tiện mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trả chiếc xe trên cho bà Mỹ A1 (Theo Quyết định xử lý vật chứng số 920/QĐ-ĐCSMT ngày 19/5/2024 - Bút lục số 269 - 271).
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen. K khai điện thoại là của cá nhân dùng để liên lạc mua bán ma túy.

Thu giữ của Nguyễn Ngọc K2:

  • 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đỏ. K2 khai nhận đây là điện thoại của mẹ ruột. Tiến hành lấy lời khai bà Trần Thị Xuân M (mẹ ruột K2), bà M cho biết khoảng 20 giờ ngày 25/4/2024 K2 có hỏi mượn điện thoại để sử dụng cá nhân, bà không biết K2 dùng vào việc mua bán ma túy.

Thu giữ của Cao Nhựt A:

  • 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 màu xanh lá. Nhựt A khai nhận đây là điện thoại dùng để liên lạc cá nhân.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-TB ngày 02 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Lê Đăng K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Duy K3 và Cao Nhựt A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc K2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Đại diện Viện kiểm sát tại phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị xử phạt:

Bị cáo Lê Đăng K từ 10 đến 11 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy.

Các bị cáo Nguyễn Ngọc Duy K3 và Cao Nhựt A cùng mức án từ 09 đến 10 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo Nguyễn Ngọc K2 từ 08 đến 09 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

  • Về hình phạt bổ sung: Không.
  • Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
  • Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho các bị cáo, để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/4/2024, Nguyễn Ngọc Duy K3, Nguyễn Ngọc K2 và Cao Nhựt A đã có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy tại nhà số I C, Phường E, quận T. K3 là người làm ra dụng cụ sử dụng ma túy, Nhựt A là người khởi xướng và đưa tiền cho K2 mua ma túy. K2 mua ma túy của Lê Đăng K tại trước nhà số G C, Phường E, quận T vào ngày 25/4/2024 về cho K3, K2 và Nhựt A sử dụng một phần, đến ngày hôm sau 26/4/2024, Nhựt A và K3 tiếp tục lấy số ma túy còn lại sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Khoảng 17 giờ ngày 27/4/2024, tại trước nhà số G C T, Phường E, quận T, Lê Đăng K bị kiểm tra hành chính và bắt quả tang đang cất giấu ma túy có khối lượng 4,7314 gam là ma tuý thể rắn, loại Methamphetamine nhằm để bán cho khách kiếm lời. Ngoài ra, vào ngày 22/4/2024 và 23/4/2024, K đã 02 lần bán 03 gói ma túy cho người nghiện tại ngã tư đường N - A, Phường F, quận T.

Bị cáo Lê Đăng K đã 03 lần có hành vi bán trái phép ma túy loại Methamphetamine vào các ngày 22, 23 và 25/4/2024. Mặt khác, bị cáo còn có 02 tiền án và nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” nhưng chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên" và “Tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Các bị cáo Nguyễn Ngọc Duy K3, Nguyễn Ngọc K2 và Cao Nhựt A có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy tại tầng gác phòng của K3 tại nhà số I C, Phường E, quận T vào ngày 25/4/2024. Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Ngọc Duy K3, Cao Nhựt A còn tiếp tục thực hiện hành vi tổ chức sử dụng ma túy vào ngày tiếp theo 26/4/2024. Do đó, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc Duy K3 và Cao Nhựt A thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên”; còn hành vi của Nguyễn Ngọc K2 thuộc trường hợp “Đối với 02 người trở lên” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà còn tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn liên quan đến ma túy trong cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc mua bán, sử dụng chất ma tuý là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, tham lợi mà bị cáo đã bất chấp, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với số ma túy bị cáo K mua ngày 20/4/2024 đã bán hết cho khách thu lợi bất chính 1.900.000 đồng, số ma túy bị cáo K mua ngày 25/4/2024 bán cho K2 01 gói với giá 200.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo có được từ hành vi bán trái phép chất ma túy kể trên là 2.100.000 đồng. Hội đồng xét xử xét đây là khoản tiền bị cáo K do phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải nộp lại số tiền này để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với đối tượng bán ma túy cho K và những đối tượng mua ma túy của K do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ để xử lý.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo để đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 khi xét xử các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Xét các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng:

  • Đối với 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký, dấu vân tay của Lê Đăng K, hình dấu của Công an P, quận T và chữ ký của giám định viên ghi số 1615/24 (bên trong là số ma túy còn lại sau khi giám định): Xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 bình nhựa trên nắp có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh, 01 bật lửa màu xanh hiệu BIC thu giữ của Nguyễn Ngọc Duy K3; 10 nỏ thủy tỉnh không chứa gì, 08 tờ giấy màu nâu, 08 tờ giấy màu trắng thu giữ của Lê Đăng K: K khai nỏ dùng để bán cho khách có nhu cầu, 16 tờ giấy màu nâu và màu trắng dùng để gói ma túy. Xét đây là tang vật các bị cáo dùng vào việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy và không có giá trị lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng dùng để gói ma túy và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Đăng K: Xét đây là tang vật bị cáo K dùng để phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu trắng ánh kim, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Ngọc Duy K3: Quá trình điều tra xác định được điện thoại này bị cáo dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đỏ, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Ngọc K2: Quá trình điều tra xác định được điện thoại này là của bà Trần Thị Xuân M (mẹ ruột K2). Bà M cho biết khoảng 20 giờ ngày 25/4/2024 K2 có hỏi mượn điện thoại để sử dụng cá nhân, bà không biết K2 dùng vào việc mua bán ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định trả lại điện thoại này cho bà M.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 màu xanh lá, đã qua sử dụng thu giữ của Cao Nhựt A. Quá trình điều tra Nhựt A khai nhận đây là điện thoại dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại điện thoại này cho bị cáo.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo: Lê Đăng K 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2024.

[2] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Ngọc K2 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2024.

[3] Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Ngọc Duy K3 09 (Chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2024.

Xử phạt bị cáo: Cao Nhựt A 09 (Chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2024.

[4] Về vật chứng:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký, dấu vân tay của Lê Đăng K, hình dấu của Công an P, quận T và chữ ký của giám định viên ghi số 1615/24 (bên trong là số ma túy còn lại sau khi giám định); 01 bình nhựa trên nắp có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tinh; 01 bật lửa màu xanh hiệu BIC; 10 nỏ thủy tỉnh không chứa gì, 08 tờ giấy màu nâu, 08 tờ giấy màu trắng.
  • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen, đã qua sử dụng.
  • Trả lại các tài sản sau: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu trắng ánh kim, đã qua sử dụng cho bị cáo Nguyễn Ngọc Duy K3; 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đỏ, đã qua sử dụng cho bà Trần Thị Xuân M; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 màu xanh lá, đã qua sử dụng cho bị cáo Cao Nhựt A.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 54/BB/2025 ngày 14/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

Buộc bị cáo Lê Đăng K nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.100.000 (Hai triệu, một trăm ngàn) đồng để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[5] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Bị cáo, NLQ;
  • VKSND quận Tân Bình;
  • Công an TP.HCM;
  • Trại tạm giam Chí Hòa - Phân trại tạm giam khu vực Q.TB;
  • Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • TAND, VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • Phòng HSNVCSCA Tp.Hồ Chí Minh;
  • Sở Tư pháp TP.HCM;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma túy" và tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/4/2024, Công an P, quận T kiểm tra hành chính tầng gác phòng của Nguyễn Ngọc Duy K3 tại số I C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc Duy K3 và Cao Nhựt A có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 01 bình nhựa có gắn ống hút nhựa và nỏ thủy tỉnh, 01 hộp quẹt gas.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger