|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HNGĐ - ST.
Ngày: 06 - 3 - 2025.
"V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thạch Thanh Tâm.
Ông Nguyễn Thanh Rực.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2024/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị H, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Ông Thạch Thái B, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 03/12/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lâm Thị H trình bày: Nguyên vào năm 2005, bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 94, quyển số 01, ngày 22/7/2008. Sau khi kết hôn ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Do mâu thuẫn trầm trọng nên ông, bà sống ly thân đến nay. Trong thời gian chung sống ông, bà có 02 người con chung tên Thạch Thái B1, sinh ngày 12/7/2007 và Thạch Thị Bảo N, sinh ngày 20/10/2013. Trong thời gian chung sống ông, bà không có tài sản chung và không có nợ chung.
Tại phiên tòa, Nguyên đơn bà Lâm Thị H yêu cầu ly hôn với ông Thạch Thái B; Yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thạch Thái B1, sinh ngày 12/7/2007 và Thạch Thị Bảo N, sinh ngày 20/10/2013 đến khi thành niên. Không yêu cầu ông Thạch Thái B cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Không có nên bà H không yêu cầu gì.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 31/12/2024 bị đơn ông Thạch Thái B trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà H về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn. Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà H thì ông không thống nhất ly hôn vì ông còn thương vợ thương con, ông muốn hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Về con chung: Ông thống nhất ông và bà H có 02 người con chung tên Thạch Thái B1, sinh ngày 12/7/2007 và Thạch Thị Bảo N, sinh ngày 20/10/2013 và ông đồng ý giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông B không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Thạch Thái B chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H; về con chung: giao cháu Thạch Thái B1, sinh ngày 12/7/2007 và Thạch Thị Bảo N, sinh ngày 20/10/2013 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông B không cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung: Không có nên không đặt ra xem xét, về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 03/12/2024 và tại phiên tòa bà Lâm Thị H trình bày: Nguyên vào năm 2005, bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 94, quyển số 01, ngày 22/7/2008. Bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Thạch Thái B1, sinh ngày 12/7/2007 và Thạch Thị Bảo N, sinh ngày 20/10/2013 đến khi thành niên. Không yêu cầu ông Thạch Thái B cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung: Không có nên bà H không yêu cầu gì. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong vụ án, bị đơn ông Thạch Thái B hiện đang cư trú tại ấp N, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Bị đơn ông Thạch Thái B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông B.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 94, quyển số 01/2008, ngày 22/7/2008 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông B là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau thời gian chung sống hạnh phúc, đến năm 2022, ông bà phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường mâu thuẫn, ông Bình thường X đi ăn nhậu không lo cho gia đình và bà H nhiều lần khuyên can nhưng ông B vẫn không thay đổi mà còn bạo hành đánh đập bà H phải nhập viện, từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, bất hòa. Ông bà vẫn không hàn gắn được tình cảm nên đã sống ly thân với nhau năm 2022 cho đến nay. Theo biên bản lấy lời khai ngày 31/12/2024 và tại phiên tòa, ông Thạch Thái B thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn như bà H trình bày. Trong thời gian chung sống, ông có lời nói và hành động làm tổn thương bà H. Ông nhận thấy mình sai nhưng vì quá thương vợ con nên mới có hành động và lời lẽ làm xúc phạm bà H. Tuy nhiên đối với yêu cầu xin ly hôn của bà H thì ông B không đồng ý vì ông còn thương vợ, thương con và muốn được hàn gắn tình cảm. Qua lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà H và ông B trong thời gian chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà H đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông B vào năm 2022 nhưng Tòa án đã động viên vợ chồng về hàn gắn tình cảm nhưng không hàn gắn được. Mặt khác sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng bà H và ông B đoàn tụ nhưng bà H vẫn kiên quyết ly hôn với ông B. Như vậy tình cảm vợ chồng của ông bà đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông B.
- [4] Về con chung: Bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B xác định trong thời gian chung sống, bà H và ông B có 02 người con chung là Thạch Thái B1, sinh ngày 12/7/2007 và Thạch Thị Bảo N, sinh ngày 20/10/2013, hiện đang sống chung với bà H; bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên, ông B cũng đồng ý theo yêu cầu của bà H và quá trình giải quyết vụ án khi ghi nhận ý kiến thì cháu B1 và cháu N có nguyện vọng sống chung với bà H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu B1 và cháu N, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu B1 và cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông B mà không ai được cản trở.
- [5] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Thị H không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- [6] Về tài sản chung: Bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- [7] Về nợ chung: Bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B xác định trong thời gian chung sống không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- [8] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [9] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Lâm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Thạch Thái B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị H.
- 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị H được ly hôn với ông Thạch Thái B.
- 1.2. Về con chung: Giao cháu Thạch Thái B1, sinh ngày 12/7/2007 và Thạch Thị Bảo N, sinh ngày 20/10/2013 cho bà Lâm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; ông Thạch Thái B không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Thạch Thái B mà không ai được cản trở.
- 1.3. Về tài sản chung: Bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- 1.4. Về nợ chung: Bà Lâm Thị H và ông Thạch Thái B xác định trong thời gian chung sống không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006812 ngày 03/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Lâm Thị H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Thạch Thái B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- 3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh |
Bản án số 21/2025/HNGĐ - ST. ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ - ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
