Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 06/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thủy và ông Phạm Duy Hiển.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01a/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05c/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Hoàng Văn Đ, sinh ngày 23/10/1985, tại huyện A, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q, sinh năm 1942 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1955; Vợ: Đồng Thị N1, sinh năm 1987, có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền sự, Tiền án: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo Hoàng Văn Đ: Bà Nguyễn Thị Ư - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1969, trú tại: T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Cụ Nguyễn Đức L, sinh năm 1936 và cụ Nguyễn Thị L1, sinh năm 1946; đều cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương;
  2. Bà Vũ Thị B, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương;
  3. Chị Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1999; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Hiện ở: Đài Loan.
  4. Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 2002; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Hiện ở: Nga.
  5. Chị Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của cụ L, cụ L1, chị T2, chị T1, anh K: Bà Vũ Thị B, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Bà B vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).

  1. Anh Nguyễn Tất T3, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Anh T3 vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Thế T4, sinh năm 1969. Vắng mặt.
  2. Bà Phạm Thị V, sinh năm 1971. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn Đ là người có giấy phép lái xe ô tô tải hạng C do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 18/12/2013, có giá trị đến 18/12/2018. Đ là lái xe tự do, thường xuyên vận chuyển rau xanh đi các tỉnh. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/7/2015, Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 89C-014.73, trên xe ghế phụ chở vợ là chị Đồng Thị N1, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng, đi trên Quốc lộ C, hướng thành phố H đi huyện T, mục đích để chở rau đến tỉnh Thanh Hoá. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe đến đoạn K, Quốc lộ C, thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Tại đây, đoạn đường không được bằng phẳng, rộng 12m. Phần đường huyện T đi thành phố H, rộng 06m đang được sửa chữa, có hệ thống rào chắn cọc tre được sơn phản quang, nối với nhau bằng dây Nilon phân quang để ngăn cách. Chiều đường ngược lại có chiều rộng 06m, trong đó: Lòng đường rộng 5,5m và lề đường rộng 0,5m; được sử dụng để các phương tiện đi chuyển 02 chiều. Đ điều khiển xe ô tô đi sau 01 chiếc xe ô tô bán tải màu đen (không rõ BKS và người điều khiển), cách 3-4m. Chiếc xe ô tô bán tải màu đen đi sau 01 xe ô tô khách chở công nhân (không rõ BKS và người điều khiển), cách 3-4m. Lúc này, Đ điều khiển xe đi sang phần đường ngược chiều mục đích để vượt xe ô tô tải màu đen và xe khách; 02 bánh xe phía trước và phía sau bên trái cách mép đường bên trái lần lượt khoảng 2,2m và 2,3m. Khi bắt đầu vượt xe, Đ phát

hiện ra phía trước ngược chiều có xe mô tô BKS 34B2-304.47 do anh Nguyễn Tất T3, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương điều khiển, phía sau chở anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương đi đến. Do khoảng cách gần, Đ không kịp điều khiển xe sang bên phải đường theo chiều đi để tránh, dẫn đến mặt ngoài cánh cửa và phía trước thùng xe bên trái va chạm với chắn bùn bánh trước và đèn tín hiệu bên trái xe mô tô BKS 34B2-304.47. Anh T3 điều khiển xe mô tô mất lái, làm xe đổ nghiêng trái hướng huyện T đi thành phố H và anh T bị ngã ngửa trên phần đường đang thi công. Tại hiện trường còn để lại dấu vết cày do xe mô tô tạo lên, có chiều huyện T đi thành phố H. Đầu vết cày cách mép đường trái 4,6m, điểm cuối vết cày trùng với bàn để chân bên trái người lái của xe mô tô BKS 34B2-304.47. Từ điểm đầu của vết cày chếch hướng hàng rào tre, hướng huyện T 7,5m là đến tâm vết máu loang, kích thước 0,1x0,2m. T5 vết máu cách mép đường trái 0,7m. T5 bánh trước và tâm bánh sau xe mô tô cách mép đường trái lần lượt là 5,7m và 5m. Xe ô tô sau tai nạn đỗ trên đường, tâm bánh trước và tâm bánh sau bên lái cách mép đường trái theo hướng đi lần lượt là 1,7m và 1,9m. Vị trí va chạm giữa 02 phương tiện thể hiện: Xe ô tô 89C-014.73: Tại mặt ngoài cánh cửa bên trái người điều khiển có vết xây xước lớp sơn, có chiều từ trước lại sau, kích thước 13,6x0,5 cm; điểm thấp nhất cách đất 93cm. Vết xây xước này còn kéo dài theo đường thẳng cùng chiều từ trước lại sau, mặt ngoài khung cabin xe, tiếp giáp với cánh cửa bên trái có kích thước 9,5x0,5cm. Đầu mép thùng xe bên trái phía trước, nơi tiếp giáp với cabin có vết xây xước lớp sơn, có chiều từ trước lại sau, kích thước 5x0,5cm. Đối với xe mô tô BKS 34B2- 304.47: Phần đầu chắn bùn bánh trước bên trái bị xây xước lớp nhựa, có chiều từ trước lại sau còn dính lại chất bẩn màu xanh, kích thước 4x1,5cm, điểm thấp nhất cách đất 57cm. Góc đèn tín hiệu phía trước bên trái bị vỡ, kích thước 2x1,3cm, tại điểm vỡ còn dính lại chất bẩn màu xanh, điểm dập vỡ cách đất 65cm. Đ phát hiện va chạm giao thông nên xuống xe, hô hoán mọi người đưa anh T đi cấp cứu.

Hậu quả: Sau tai nạn, anh T bị chấn thương, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại các cơ sở y tế là Bệnh viện Đa khoa tỉnh H, Bệnh viện H, Hà Nội và Bệnh viện B1, Hà Nội, từ ngày 28/7/2015 đến ngày 07/9/2015 thì ra viện. Đến ngày 05/3/2019, anh T chết tại gia đình. Xe mô tô BKS 34B2-304.47 bị hư hỏng.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 192/TgT ngày 17/10/2015 của Phòng Giám định pháp y, Bệnh viện Đa khoa tỉnh H đối với anh Nguyễn Đức T kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương gây trật đốt sống C6-7, liệt tuỷ, gẫy xương đòn trái, rách vành tai phải, đã được điều trị. Hiện liệt hoàn toàn 02 chi dưới, rối loạn cơ tròn đái, ỉa không tự chủ, sẹo vết thương vùng vành tai phải, xương đòn trái, loét vùng cùng cụt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là: 96%.

Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KLĐG-HĐ ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện G, kết luận:

  • Giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS: 34B2-304.47, nhãn hiệu YAMAHA, đăng ký lần đầu ngày 05/9/2013, bị hư hỏng do liên quan tai nạn giao thông đường bộ thời điểm tháng 07 năm 2015 là: 150.000 đồng.
  • Giá trị thiệt hại của xe ô tô BKS: 89C-014.73, nhãn hiệu KIA, loại xe tải mui phủ, năm sản xuất 2011, tự trọng 1830kg, tải trọng hàng hoá 960kg, đăng ký lần đầu ngày 19/3/2012, bị hư hỏng do liên quan tai nạn giao thông đường bộ thời điểm tháng 07 năm 2015 là: 600.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ việc, ngày 28/01/2016, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã khởi tố vụ án hình sự. Đến ngày 28/4/2016, vụ án được tạm đình chỉ do hết thời hạn điều tra vụ án, chưa xác định được bị can. Đến ngày 03/9/2024, do có căn cứ xác định được bị can của vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã phục hồi điều tra vụ án trên để giải quyết theo quy định.

Cáo trạng số 68/CT-VKS ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện G, tỉnh Hải Dương truy tố Hoàng Văn Đ về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà B, xác định gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm các khoản gì khác.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt của anh T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản gì khác, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa:

VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh khó khăn, đã bồi thường cho bị hại, gia đình bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Sau khi nghe bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, đại diện VKSND huyện Gia Lộc không đồng ý và giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với bị cáo là đúng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho gia đình bị hại và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.

  2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/7/2015, Hoàng Văn Đ là người có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, điều khiển xe ô tô tải BKS 89C-014.73 trên Quốc lộ C hướng thành phố H đi huyện T. Khi đi đến đoạn Km7, thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương, Đ điều khiển xe ô tô vượt xe ô tô phía trước cùng chiều khi phần đường ngược chiều đang có xe mô tô BKS 34B2-304.47 do anh Nguyễn Tất T3, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương điều khiển, phía sau chở anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương, đi đến, dẫn đến tai nạn giao thông, làm mặt ngoài cánh cửa và phía trước thùng xe bên trái xe ô tô va chạm với chắn bùn bánh trước và đèn tín hiệu bên trái xe mô tô làm anh T ngã ngửa xuống đường. Hậu quả: Anh T bị đa chấn thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 96% (Chín mươi sáu phần trăm). Đến ngày 05/3/2019, anh T chết tại gia đình. Xe mô tô BKS 34B2-304.47 của anh T3 bị hư hỏng, giá trị tài sản bị thiệt hại là 150.000 đồng.

  3. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có giấy phép lái xe ô tô tải hạng C, bị cáo phải biết các quy định, quy tắc giao thông đường bộ, buộc phải chấp hành khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo điều khiển xe ô tô vượt xe ô tô phía trước cùng chiều khi phần đường ngược chiều đang có xe mô tô do anh T3 điều khiển, phía sau chở anh T, đi đến, dẫn đến va chạm giữa hai phương tiện, do vậy bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ “2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải. ”, dẫn đến hậu quả anh T bị đa chấn thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 96%, xe mô tô của anh T3 bị hư hỏng, giá trị tài sản bị thiệt hại là 150.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về điểu khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, vì thời điểm bị cáo phạm tội đang áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. So sánh mức hình phạt tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 với khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì mức hình phạt tại khoản 1 Điều 202 Bộ Luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 nhẹ hơn mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH-14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 hướng dẫn thi hành các quy định có lợi của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi của bị cáo Hoàng Văn Đ được áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Như vậy, VKSND huyện Gia Lộc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

  4. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, làm ảnh hưởng đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, tài sản của người khác nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

  5. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và bị hại (anh T3) đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, và “các tình tiết giảm nhẹ khác” quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  6. Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đối với đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo của người bào chữa cho bị cáo, HĐXX xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, hơn nữa lỗi thuộc về bị cáo, bị hại không có lỗi, mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, đã bồi thường cho gia đình bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nhưng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao ý thức của người dân khi tham gia giao thông nên không chấp nhận đề nghị này của người bào chữa.

  7. Về hình phạt bổ sung: HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  8. Về vật chứng:

    • 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] của Hoàng Văn Đ; 01 xe ô tô BKS: 89C-014.73; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô. Cơ quan điều tra đã trả lại giấy tờ, tài sản trên cho bị cáo theo quy định, do vậy HĐXX không xem xét.
    • 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số H762849 của anh Nguyễn Tất T3; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS: 34B2-304.47; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Cơ quan điều tra đã trả lại giấy tờ, tài sản trên cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Tất T3 theo quy định, do vậy HĐXX không xem xét.
  9. Về trách nhiệm dân sự:

    Bị cáo đã bồi thường toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, thiệt hại về sức khoẻ, tổn thất và tinh thần cho gia đình anh Nguyễn Đức T, với số tiền 90.000.000 đồng. Gia đình anh T xác định về trách nhiệm dân sự đã thoả thuận giải quyết xong, không yêu cầu đề nghị gì thêm. Do đó, HĐXX không xem xét.

    Anh Nguyễn Tất T3 tự nguyện không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường giá trị thiệt hại chiếc xe mô tô BKS: 34B2-304.47. Bị cáo Đ không yêu cầu anh T3 và gia đình anh T phải bồi thường giá trị thiệt hại chiếc xe ô tô BKS 89C- 014.73. Do đó, HĐXX không xem xét.

  10. Đối với anh Nguyễn Tất T3, điều khiển xe mô tô chở anh T, đi đúng phần đường bên phải theo chiều đi. Anh T3 không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên, vì vậy không đặt vấn đề xử lý đối với anh T3.

  11. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội "Vi phạm quy định về điểu khiển phương tiện giao thông đường bộ".

    • - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
    • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  2. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Đ.

  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan điều tra, Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự, Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự, Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/7/2015, Hoàng Văn Đ là người có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, điều khiển xe ô tô tải BKS 89C-014.73 trên Quốc lộ C hướng thành phố H đi huyện T. Khi đi đến đoạn Km7, thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương, Đ điều khiển xe ô tô vượt xe ô tô phía trước cùng chiều khi phần đường ngược chiều đang có xe mô tô BKS 34B2-304.47 do anh Nguyễn Tất T3, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương điều khiển, phía sau chở anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương, đi đến, dẫn đến tai nạn giao thông, làm mặt ngoài cánh cửa và phía trước thùng xe bên trái xe ô tô va chạm với chắn bùn bánh trước và đèn tín hiệu bên trái xe mô tô làm anh T ngã ngửa xuống đường. Hậu quả: Anh T bị đa chấn thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 96% (Chín mươi sáu phần trăm). Đến ngày 05/3/2019, anh T chết tại gia đình. Xe mô tô BKS 34B2-304.47 của anh T3 bị hư hỏng, giá trị tài sản bị thiệt hại là 150.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger