Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HSST

Ngày 06 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hòa;

Ông Nguyễn Văn Độ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số: 147/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/HSST - QĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1992 tại Quảng Nam; nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Q và bà Hồ Thị X; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 19 tháng 11 năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 37/2019/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2019; bị bắt, tạm giam từ ngày 13 tháng 8 năm 2024 cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ D, ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

+ Ông Lê Mạnh T, sinh năm 2001; nơi cư trú: tổ F, ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11 tháng 8 năm 2024, Nguyễn Hoàng V đi đến khu vực cầu vượt T gặp đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua một gói nilon chứa ma túy đá với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua xong, V đem về phòng trọ thuộc ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương sử dụng hết một phần trong gói ma túy. Phần ma túy còn lại V bỏ vào trong gói thuốc lá hiệu HB cất giấu trong phòng trọ. Sau đó đến khoảng 23 giờ ngày 12 tháng 8 năm 2024, V đem theo gói thuốc lá hiệu HB bên trong có cất giấu gói ma túy để trên gác baga xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 61N5 - 8142 và điều khiển xe đến khu nhà ở xã H. Đến khoảng 00 giờ 25 phút ngày 13 tháng 8 năm 2024, khi V đi đến đoạn đường N8 - LH thuộc ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương thì bị Công an xã L, huyện B bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm:

- 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu HB bên trong có chứa 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (đối tượng V khai nhận bên trong có ma túy, loại ma túy đá).

- 01 (một) xe mô tô biển số 61N5 - 8142.

Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số: 3871/KL - KTHS (MT) ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B (bút lục số 36) kết luận: tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: 0,1555 gam.

Đối với đối tượng tên T1 đã bán ma túy cho V do chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số: 139/CT - VKSNDBB ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V mức hình phạt tù từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: đối với mẫu vật sau giám định được niêm phong, khối lượng/trọng lượng: 0,1091 ma túy, loại Methamphetamine là vật cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị tịch thu và tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về Kết luận giám định số: 3871/KL-KTHS (MT) ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng. Do vậy, đã có đủ cơ sở xác định: khoảng 00 giờ 25 phút ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại đường N - LH thuộc ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Hoàng V bị Công an xã L bắt quả tang khi đang cất giấu ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,1555 gam dùng để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là mầm mống phát sinh ra các tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[6] Về nhân thân: ngày 19 tháng 11 năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 37/2019/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2019.

[7] Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Đối với đối tượng tên T1 đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch nên Công an huyện B tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng:

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra quyết định xử lý vật chứng trả cho bà Nguyễn Thị L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ bạc, biển số 61N5 - 8142, số máy: 6492388, số khung Y492433 là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với mẫu vật được hoàn lại sau khi giám định được niêm phong, khối lượng/trọng lượng: 0,1091 ma túy, loại Methamphetamine là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Các Điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Điều 106; khoản 2 Điều 136; các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 8 năm 2024.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 3871/PC09 (là mẫu vật gửi lại sau giám định trong QĐTC giám định số: 969 ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Dương) có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Hoàng V (người chứng kiến), Nguyễn Hoàng  (bên trả mẫu), Nguyễn Hồng Q1 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng KTHS - Công an tỉnh B. Khối lượng mẫu niêm phong 0,1091 gam, loại Methamphetamine.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng ngày 04 tháng 12 năm 2024).

Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Nguyễn Hoàng V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HSST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 21/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN HOÀNG V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger