Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 05/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hà
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hoàng Anh và bà Nguyễn Thị Tưởng;
  • Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoàng A - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/12/1972; nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; họ tên bố: Nguyễn Đức N (đã chết); họ tên mẹ: Nguyễn Thị V - sinh năm 1950; anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai; vợ: Trương Bích H - sinh năm 1972; con: Có 01 con sinh năm 1997.

* Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân:

  • - Bản án số 92 ngày 08/12/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt Nguyễn Đức T 03 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03 ngày 05/12/2005 của Công an thị xã T (nay là thành phố T) đối với Nguyễn Đức T về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền 500.000 đồng.
  • - Bản án số 06 ngày 28/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt Nguyễn Đức T 06 tháng tù, cho hưởng án treo, về tội Đánh bạc.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 001303 ngày 10/4/2020 của Công an thành phố T đối với Nguyễn Đức T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt cảnh cáo.

* Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa, tại điểm cầu trại tạm giam Công an tỉnh T).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức T trú tại tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng tháng 9/2024, T một mình đi xe khách đến khu vực bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông (không xác định được tên, địa chỉ cụ thể) 01 gói Heroine bên ngoài được cuốn bằng băng dính màu đen với giá 5.000.000 đồng. Sau đó T đem gói Heroine mua được về nhà và giấu ở trên tấm lưới quây nhà để xe cạnh nhà ở của T, mục đích để sử dụng khi có nhu cầu.

Hồi 20 giờ 55 phút ngày 01/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn P trú tại tổ dân phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kết quả điều tra xác định nguồn gốc ma túy mà P tàng trữ là do P mua của Nguyễn Xuân C trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Hồi 09 giờ ngày 02/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét đối với người, chỗ ở của Nguyễn Xuân C tại tổ dân phố C, phường T, thành phố T, phát hiện và thu giữ tang vật là ma túy theo quy định. Chiêm khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ của C là do C mua của Nguyễn Đức T và Trương Bích H (vợ của T) vào ngày 22/9/2024 tại nhà ở của T.

Hồi 10 giờ 05 phút, ngày 02/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức T, thu giữ 01 gói Heroine và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max của T.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể của T ngày 02/10/2024, kết quả âm tính (không có chất ma túy trong cơ thể). T khai từ lúc mua gói H1 về đến khi bị phát hiện, T chưa lấy Heroine để sử dụng lần nào và không bán cho ai.

Tại Kết luận giám định số 1325/KL-KTHS ngày 07/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng trong bì niêm phong (thu giữ của Nguyễn Đức T) gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (H), khối lượng 6,062g (sáu phẩy không sáu hai gam).

Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Đức T 01 phong bì niêm phong, trên các mép dán có chữ ký của Nguyễn Đức T, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, bên trong có 5,762g Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định), tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định; biên bản xác minh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSTP ngày 12 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị Nguyễn Đức T từ 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù đến 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/10/2024. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; xử lý vật chứng đề nghị tịch thu, tiêu hủy số Heroin còn lại sau giám định, trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo Nguyễn Đức T theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh T; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 02/10/2024 tại tổ dân phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Đức T trú tại tổ dân phố E, phường T, thành phố T có hành vi tàng trữ 6,062g (sáu phẩy không sáu hai gam) Heroine, mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức T có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức T không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong, trên các mép dán có chữ ký của Nguyễn Đức T, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 5,762g Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định), là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max của Nguyễn Đức T bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đức T, do không xác định được tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8]. Đối với việc Nguyễn Xuân C trình bày Nguyễn Đức T và Trương Bích H đã bán ma túy cho C vào ngày 22/9/2024 tại nhà ở của T, tuy nhiên T, H không thừa nhận hành vi bán ma túy cho C. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không chứng minh được nên không có căn cứ để xử lý.

[9]. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn P và Nguyễn Xuân C đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T khởi tố, điều tra theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 92 ngày 04/10/2024.

[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/10/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 5,762g (Heroine) được niêm phong trong 01 phong bì, trên các mép dán có chữ ký của Nguyễn Đức T, chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
    • - Trả lại bị cáo Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

      (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 17/02/2025).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND TP Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Thuận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger