Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 03-3-2025

V/v Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

và Tranh chấp về cấp dưỡng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan

Các Thẩm phán:

  1. Bà Lưu Thị Thủy Tiên;
  2. Ông Hồ Minh Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (số B đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 134/2024/TLPT- HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn và Tranh chấp về cấp dưỡng.

Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 1347/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 400/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lâm Chí V, sinh năm 1979

Địa chỉ: số A đường T, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1988

Địa chỉ: số G đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Lâm Văn H1, sinh năm 1953

Địa chỉ: số A đường T, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

3.2. Ngân hàng TMCP Á

Địa chỉ: Lầu H, Tòa nhà A, số D đường C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do bà Nguyễn Phạm Phương T làm đại diện. (có mặt)

(Văn bản ủy quyền ngày 07/3/2024)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, ông Lâm Chí V− là nguyên đơn trình bày:

Năm 2010, ông V và bà Trần Thị H kết hôn và có 02 con chung là Lâm Hoàng A và Lâm Hồng A1 cùng sinh ngày 06/01/2015; năm 2023, ông V và bà H ly hôn theo Bản án số 439/2023/HNGĐ-ST ngày 06/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình chung sống, bà H và ông V tạo lập được khối tài sản gồm:

- Nhà, đất tọa lạc tại số E đường L, Phường A, quận G: Hiện căn nhà này ông V và bà H đang thế chấp để vay tiền của Ngân hàng TMCP Á nên tại phiên tòa sơ thẩm ông V rút lại, không yêu cầu chia căn nhà này;

- Nhà, đất tọa lạc tại số C đường T, Phường A, quận G: Hiện căn nhà này bà H đã chuyển nhượng cho người khác vào ngày 21/7/2022 với giá là 12.500.000.000 (mười hai tỷ năm trăm triệu) đồng; trong số tiền bán nhà nói trên, ông V nhận cọc 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng để chi dùng vào mục đích sinh hoạt gia đình, bà H nhận 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng để trả nợ chung cho ông Lâm Văn H1, số tiền còn lại là 9.000.000.000 (chín tỷ) đồng bà H đang giữ nên ông V yêu cầu bà H phải trả lại cho ông ½ là 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu) đồng.

* Bà Trần Thị H – bị đơn trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của ông V về phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đối với số tiền ông V yêu cầu bà H phải trả lại cho ông là 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu) đồng, bà H cho rằng khi nào bán được

căn nhà số E đường L, Phường A, quận G thì bà mới có tiền để trả lại cho ông V.

Ngoài ra, bà H có yêu cầu phản tố với nội dung: Yêu cầu ông V thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung một lần với số tiền tổng cộng là 2.180.000.000 (hai tỷ một trăm tám mươi triệu) đồng (thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 01/12/2023 cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi là 109 tháng, mỗi tháng 20.000.000 đồng). Sau khi bán được căn nhà số E đường L, Phường A, quận G bà H sẽ trừ lại số tiền cấp dưỡng và trả lại cho ông V (4.500.000.000 đồng – 2.180.000.000 đồng) là 2.320.000.000 (hai tỷ ba trăm hai mươi triệu) đồng.

* Ngân hàng TMCP Á – Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ngân hàng TMCP Á không đồng ý việc ông V và bà H chia tài sản chung là nhà, đất tại số E đường L, Phường A, quận G vì đây là tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng.

* Ông Lâm Văn H1 – Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Từ tháng 8/2022 đến nay, ông H1 là người cho ông V vay 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, số nợ này ông H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 1347/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 153/2024 ngày 30 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 150; Điều 157; Điều 165; Điều 217; Điều 218; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 33; Điều 59; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 105 và Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Pháp Lệnh án phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Lâm Chí V về việc chia tài sản chung là nhà, đất tại số E đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Xác định số tiền 9.000.000.000 (chín tỷ) đồng hiện bà Trần Thị H đang giữ là tài chung của ông Lâm Chí V và bà Trần Thị H.

Bà Trần Thị H phải trả cho ông Lâm Chí V số tiền 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu) đồng. Thi hành ngay khi án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ khi ông V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà H còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn

Ông Lâm Chí V phải cấp dưỡng cho bà Trần Thị H tiền nuôi 02 con chung Lâm Hoàng A và Lâm Hồng A1 cùng sinh ngày 06/01/2015 số tiền là 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng/tháng (mỗi con chung là 7.500.000 đồng/tháng). Cấp dưỡng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm giao tiền cấp dưỡng thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

- Ngày 07/10/2024, bà Trần Thị H kháng cáo đề nghị khi nào bán được căn nhà số E đường L, Phường A, quận G thì bà mới trả lại tiền cho ông Lâm Chí V;

- Ngày 10/10/2024, ông Lâm Chí V kháng cáo không đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông Lâm Chí V là nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị H đồng thời vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Bà Trần Thị H là bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Chí V đồng thời vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Bà Nguyễn Phạm Phương T, đại diện Ngân hang T1 không có ý kiến và yêu cầu gì.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn luật định.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng nguyên tắc xét xử, đảm bảo cho đương sự được phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm và tranh luận; đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lâm Chí V và bà Trần Thị H còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo: Căn cứ chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét đơn kháng cáo nhận thấy:

Đối với yêu cầu chia căn nhà số C đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Lâm Chí V: Ngày 21/7/2022, ông V và bà H đã bán căn nhà nói trên với giá là 12.500.000.000 (mười hai tỷ năm trăm ngàn) đồng, ông V đã nhận cọc 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và đã chi dùng hết vào sinh hoạt gia đình, còn bà H đã nhận 12.000.000.000 (mười hai tỷ) đồng, sau đó bà H đã trả ông Lâm Văn H1 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng là tiền nợ chung của ông V, bà H, hiện bà H còn giữ 9.000.000.000 (chín tỷ) đồng, đây là tài sản chung của ông V và bà H, hiện nay bà H đang quản lý nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà H phải trả lại cho ông V ½ tương ứng với số tiền 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu) đồng là có cơ sở. Do đó, kháng cáo của bà H cho rằng khi nào bán được căn nhà số E đường L, Phường A, quận G thì bà mới trả lại tiền cho ông V là không có cơ sở.

Đối với yêu cầu của bà Trần Thị H về việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Quá trình xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét điều kiện kinh tế và khả năng của ông V để đánh giá phù hợp với mức lương tối thiểu vùng mà pháp luật đã quy định nên kháng cáo của ông V cho rằng chỉ có khả năng cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng là không có cơ sở.

Từ phân tích trên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Chí V và kháng cáo của bà Trần Thị H - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 1347/2024/HNGĐ-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hình thức: Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên tòa và tuyên án ngày 26/9/2024. Ngày 07/10/2024 và ngày 10/10/2024, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp lần lượt nhận được Đơn kháng cáo của bà Trần Thị H và của ông Lâm Chí V, căn cứ quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự thì Đơn kháng cáo của bà H và ông V còn trong hạn luật định nên có cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung kháng cáo:

[2.1]. Xét kháng cáo của ông Lâm Chí V:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định: “2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.” và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con...".

Theo lời khai của bà Trần Thị H và sự thừa nhận của ông Lâm Chí V thì hiện 02 con chung Lâm Hoàng A và Lâm Hồng A1 đang sống cùng với bà H, qua đối chiếu với các quy định viện dẫn trên thì việc bà H là người đang trực tiếp nuôi con yêu cầu ông V thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở và phù hợp.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: Theo lời trình bày của bà H thì chi phí thực tế cho việc đi học và các khoản chi phí khác cho mỗi con từ khoảng hơn 10.000.000 (mười triệu) đồng/tháng (có khoản có chứng từ thu và có khoản không có).

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình tố tụng, ông V trình bày hiện ông không có việc làm ổn định và phía bà H cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh thu nhập của ông V nên dựa vào mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi trẻ cư trú thì mức cấp dưỡng 7.500.000 (bảy triệu năm trăm ngàn) đồng mỗi trẻ/tháng để nuôi con chung Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là hợp lý, đảm bảo được các chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của mỗi con chung tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (gồm tiền học văn hóa, tiền vui chơi - giải trí, tiền ăn uống, sinh hoạt và tiền khám chữa bệnh...) nên việc ông V kháng cáo cho rằng do điều kiện kinh tế khó khăn nên chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng (mỗi trẻ 2.500.000 đồng/tháng) là không có cơ sở chấp nhận.

[2.2]. Xét kháng cáo của bà Trần Thị H:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H thừa nhận số tiền bán tài sản chung là căn nhà số C đường T, Phường A, quận G sau khi trừ chi phí sinh hoạt chung và trả nợ, hiện bà còn giữ 9.000.000.000 (chín tỷ) đồng. Hội đồng xét xử xét thấy số tiền nói trên bà H đã giữ từ khoảng tháng 7/2022 đến nay nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà H phải thanh toán cho ông V 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu) đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật là đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên nên việc bà H kháng cáo yêu cầu khi nào bán được căn nhà số E đường L, Phường A, quận G thì bà mới có tiền để trả lại cho ông V là không công bằng đối với ông V nên không có cơ sở chấp nhận.

[3]. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lâm Chí V và bà Trần Thị H phải chịu theo quy định.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo nên ông Lâm Chí V và bà Trần Thị H phải chịu.

[4]. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá ông Lâm Chí V và bà Trần Thị H phải chịu theo quy định.

[5]. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 150; Điều 157; Điều 165; Điều 217; Điều 218; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 33; Điều 59; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 105 và Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Pháp Lệnh án phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Chí V và bà Trần Thị H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 1347/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 153/2024 ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Lâm Chí V về việc chia tài sản chung là nhà, đất tại số E đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông V và bà H được quyền khởi kiện lại vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Xác định số tiền 9.000.000.000 (chín tỷ) đồng hiện bà Trần Thị H đang giữ là tài chung của ông Lâm Chí V và bà Trần Thị H.

Bà Trần Thị H phải trả cho ông Lâm Chí V số tiền 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu) đồng. Thi hành ngay khi án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ khi ông V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà H còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn

Ông Lâm Chí V phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung Lâm Hoàng A và Lâm Hồng A1 cùng sinh ngày 06/01/2015 số tiền là 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng/tháng (mỗi con chung là 7.500.000 đồng/tháng). Cấp dưỡng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thi hành ngay khi án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm giao tiền cấp dưỡng thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lâm Chí V phải chịu 112.500.000 (một trăm mười hai triệu năm trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.500.000 (năm mươi tám triệu năm trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0012618 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Ông V còn phải nộp thêm 54.000.000 (năm mươi bốn triệu) đồng.

Bà Trần Thị H phải chịu 112.500.000 (một trăm mười hai triệu năm trăm ngàn) đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Lâm Chí V phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0014680 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Ông V đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0014584 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

5. Về chi phí tố tụng:

Bà Trần Thị H phải trả cho ông Lâm Chí V chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.500.000 (ba triệu năm trăm ngàn) đồng và chi phí định giá tài sản là 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - TAND quận Gò Vấp;
  • - Chi Cục THADS quận Gò Vấp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Bích Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn và tranh chấp về cấp dưỡng.

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn và Tranh chấp về cấp dưỡng.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn và Tranh chấp về cấp dưỡng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger