Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 21/2025/DS-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 750/2024/TLST-DS 03/12/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-DS ngày 06/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-DS ngày 05/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ: Số B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Quốc H, sinh năm 1982 – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ liên hệ: Số D Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Là đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền số 137/2024/UQ-CNBD ngày 17/10/2024. Vắng mặt có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Kim H1, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 17/10/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Quốc H trình bày:

Ngày 09/11/2023 giữa bà Huỳnh Kim H1 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ký kết Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số LD2220800052 với nội dung: Ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng với số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) mục đích tiêu dùng, thông qua sử dụng thẻ tín dụng loại thẻ Visa Platinum Cashback, số thẻ 436438-7306; lãi suất 28%/năm Khoản vay không có tài sản đảm bảo.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Huỳnh Kim H2 dụng số tiền được cấp tín dụng. Đến ngày 05/02/2024 bà Huỳnh Kim H3 nghĩa vụ thanh toán, theo nội dung đã thỏa thuận, toàn bộ khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nhiều lần trao đổi, làm việc và tạo mọi điều kiện để bà Huỳnh Kim H4 nợ gốc, các khoản lãi phát sinh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nhưng bà Huỳnh Kim H5 không thực hiện thanh toán theo đúng các cam kết với Ngân hàng.

Tính đến hết ngày 28/02/2025, bà Huỳnh Kim H1 còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền 47.220.507 đồng; trong đó: Nợ gốc 30.000.000 đồng và lãi quá hạn 17.220.507 đồng. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bà Huỳnh Kim H1 trả số nợ này và trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số LD2220800052 ngày 09/11/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

- Bị đơn bà Huỳnh Kim H1: Bà H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, bà H1 không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà.

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng là nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt vi phạm quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ Điều 466 và 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn sứ các Điều 91, 94, 95 và 98 của Luật các Tổ chức tín dụng, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện bị đơn bà Huỳnh Kim H1 yêu cầu thanh toán tiền nợ phát sinh từ Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số LD2220800052 ngày 09/11/2023. Bị đơn bà Huỳnh Kim H1 có đăng ký thường trú tại tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Toà án xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn bà Huỳnh Kim H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định tại Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về chứng cứ: Quá trình tố tụng, bị đơn vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ, không gửi ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên coi như từ chối quyền tự bảo vệ của mình và chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tổ chức phiên họp công khai giao nộp và tiếp cận chứng cứ ngày 06/01/2025, gửi kết quả cho các đương sự nhưng không ai có ý kiến thắc mắc, không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác, ngoài chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, Tòa án căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập được làm căn cứ giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Căn cứ Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số LD2220800052 ngày 09/11/2023 có cơ sở xác định giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh B và bà Huỳnh Kim H1 có ký kết Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số LD2220800052 ngày 09/11/2023. Hợp đồng này được ký kết giữa người có thẩm quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh B với bà Huỳnh Kim H1 thể hiện ý chí tự nguyện thoả thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, thoả thuận của các bên về số tiền vay, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ...phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực và bắt buộc các bên phải thực hiện.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng cho bà H1 và bà H1 đã ký tên và ghi họ tên tại phần chủ thẻ chính là Huỳnh Kim H1. Theo lời trình của nguyên đơn và Bảng tóm tắt sao kê của khách hàng Huỳnh Kim H1, số thẻ 436438-7306 ngày 27/02/2025 thể hiện bà H1 có sử dụng thẻ và phát sinh dư nợ, cụ thể: Từ ngày 05/02/2024, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, số tiền còn nợ tính đến ngày 28/02/2025 là 47.220.507 đồng; trong đó: Nợ gốc 30.000.000 đồng và lãi quá hạn 17.220.507 đồng. Bị đơn bà H1 vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ, không gửi ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét thấy, việc bà H1 không thanh toán tiền cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận giữa các bên, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà Huỳnh Kim H1 phải trả số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 28/02/2025 là 47.220.507 đồng; trong đó: Nợ gốc 30.000.000 đồng và lãi quá hạn 17.220.507 đồng. Ngoài ra, bà H1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận cho đến khi bà H1 thanh toán hết số nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Từ những phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà là có căn cứ và phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu toàn bộ do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, 463, 466 và 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, 94, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Thông Tư số 39/2016/TTNH-NN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;

Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn bà Huỳnh Kim H1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  2. Buộc bà Huỳnh Kim H1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 28/02/2025 là 47.220.507 đồng (bốn mươi bảy triệu hai trăm hai mươi nghìn năm trăm lẻ bảy đồng); trong đó: Nợ gốc 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) và lãi quá hạn 17.220.507 đồng (mười bảy triệu hai trăm hai mươi nghìn năm trăm lẻ bảy đồng).

    Kể từ ngày 01/3/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ gốc 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), bà Huỳnh Kim H1 còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 09/11/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh B với bà Huỳnh Kim H1.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Huỳnh Kim H1 phải chịu số tiền 2.361.025 đồng (hai triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm hai mươi lăm đồng).

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.025.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0005886 ngày 27/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 21/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger