Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sang và bà Vũ Thị Dinh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đình T1, sinh ngày 16/11/1982, tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957, trú cùng địa chỉ. Bị cáo có vợ chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984, trú cùng địa chỉ. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: từ tháng 02/2001 đến 01/2003, tham gia nghĩa vụ quân sự, đơn vị: kho 22, Cục K; Bản án số 175/2012/HSST ngày 21/9/2012 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, phạt bổ sung 3.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm về “Tội đánh bạc” (chấp hành xong thời gian thử thách của án treo ngày 21/9/2013, nộp tiền phạt và án phí ngày 27/11/2012). Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.
  2. Được dẫn giải có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Đình Thế A1, sinh ngày 27/4/2002. Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nơi tạm trú: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1972 và bà Phan Thị L, sinh năm 1980, cùng trú tại ấp T, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.
  4. Được dẫn giải có mặt tại phiên tòa.

  • * Bị hại:
  • Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1978; trú tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Có mặt).
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  • Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984; trú tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt).
  • * Người làm chứng:
  • Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1938 và chị Trần Thị Tường V, sinh năm 2005, trú tại thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 01/2021 và tháng 5/2021, vợ chồng chị Vũ Thị H1, sinh năm 1978 và anh Trần Tuấn A2, sinh năm 1979, trú tại thôn D, xã T, huyện T 02 lần vay tiền của Nguyễn Đình T1, sinh năm 1982, trú tại thôn H, xã T, với tổng số tiền là 301.000.000 đồng (có viết giấy vay tiền) để mua máy cày, hẹn sau khoảng 01 năm trả nợ (vợ chồng chị H1 còn vay tiền của những người khác để làm ăn). Do thua lỗ, tháng 8/2021, vợ chồng chị H1 phải bán nhà trả nợ rồi về nhà bà Nguyễn Thị L1 để ở (bà L1 là mẹ đẻ của chị H1); chị H1 đi làm công nhân ở gần nhà, còn anh Tuấn A2 đi làm ở tỉnh ngoài để có tiền trả nợ. Đối với số tiền vay của T1, vợ chồng chị H1 chưa trả, T1 nhiều lần đòi tiền nhưng không được. Tháng 7/2024, T1 đến nhà bà L1 để gặp chị H1 đòi tiền, chị H1 trả cho T1 được 10.000.000 đồng và hẹn mỗi tháng tiếp theo, khi có tiền lương sẽ trả cho T1 10.000.000 đồng. Khoảng 20 giờ 30 ngày 23/8/2024, quá ngày hẹn trả nợ theo tháng nhưng vẫn chưa thấy chị H1 trả tiền, T1 rủ cháu họ là Nguyễn Đình Thế A1 (đang ở cùng nhà với T1, phụ giúp quán cắt tóc của T1 tại thôn H, xã T) đến nhà bà L1, để gặp chị H1 đòi tiền. Thép đi xe máy điện nhãn hiệu DIBAO biển kiểm soát 17MĐ8-098.67 chở Thế A1 đến nhà bà L1. Lúc này chỉ có bà L1 và Trần Thị Tường V, sinh năm 2005 (con gái chị H1) ở nhà. Thế A1 ngồi ở hiên, T1 vào trong phòng ngủ bảo V gọi điện thoại bảo chị H1 về. V nói không có điện thoại. Cùng lúc này, thấy đầu giường ngủ của V có tiếng chuông điện thoại, T1 lật chiếu lên thì thấy chiếc điện thoại di động của V và một số giấy tờ cá nhân gồm: 01 Căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên chị Vũ Thị H1; 01 thẻ ATM ngân hàng, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe mô tô mang tên Trần Thị Tường V; 01 Giấy đăng ký xe mô tô, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe mô tô mang tên anh Nguyễn Công T2.

Thép lấy toàn bộ số giấy tờ này cho vào túi quần đang mặc sau đó đưa cho Thế A1 bỏ vào cốp xe của T1, mục đích để chị H1 phải gặp T1 trả nợ thì T1 trả lại giấy tờ. Sau đó T1 đi ra hiên thì chị H1 đi xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA, sơn màu trắng, không có biển kiểm soát chở con gái là cháu Trần Huyền T3, sinh năm 2015 về đến sân nhà và để xe ở trước cửa bếp, cách chỗ Thế A1 ngồi khoảng 2,7m. T1 nói với chị H1: “Bao giờ mày trả tiền cho tao?”. Chị H1 nói: “Khi nào có thì chị trả” rồi ra cửa bếp đứng. Bực tức việc chị H1 không trả tiền, T1 tiến lại gần, dùng tay phải tát một cái vào mặt chị H1. Bà L1 hô: “Làng nước ơi, anh này đến phá nhà tôi”. T1 nói: “Bà cứ kêu thoải mái lên”. Bà L1 đi vào trong bếp, hai tay cầm 02 dao đi ra sân khua đuổi nhưng T1 không về. Lúc này chị H1 ngồi ở cửa bếp, T1 dùng chân phải đạp một cái về phía ngực chị H1, chị H1 giơ hai tay lên đỡ rồi đứng dậy đi vào trong bếp. T1 đứng ở cửa bếp chửi: “Đ** mẹ mày, bao giờ mày trả tiền tao?”. Chị H1 nói: “Cho chị khất, bao giờ có thì chị trả”. T1 nói: “Mày phải chốt ngày nào mày trả tiền”. Chị H1 nói: “Cho chị khất bao giờ có chị trả” rồi đi ra cửa bếp đứng. T1 dùng tay đập mạnh vào cánh cửa bếp, dùng chân phải đạp một cái về phía bụng chị H1, chị H1 dùng hai tay đỡ và lùi vào trong bếp. T1 dùng tay kéo đổ chiếc xe đạp điện của chị H1 ra sân rồi nói với Thế A1: “Đi về, lấy cả xe này về nữa”. Thế A1 đứng dậy, ngồi lên xe máy điện của T1. Thép dựng xe đạp điện của chị H1 lên rồi dắt đi về phía cổng. Đi được khoảng 02m, bà L1 cầm dao khua về phía T1 và nói: “Bỏ cái xe cho tôi, xe của tôi mua cho cháu tôi đi học”. Thép thả tay ra, làm xe đổ xuống sân và nói: “Xe của chị H1, bà già làm gì có xe” rồi lại dựng xe lên, dắt đi về phía cổng. Đi được khoảng 03m thì bà L1 đi phía sau, tay phải cầm hai dao, tay trái cầm vào quai xách của yên xe thì T1 dùng tay gạt tay của bà L1 ra. Thép dong xe đi ra cổng rồi ngồi lên yên xe và bảo Thế A1: “Đẩy hộ chú cái xe về”. Thế A1 điều khiển xe máy điện của T1, dùng chân phải đặt vào giá để chân sau bên trái đẩy xe đạp điện của chị H1 về nhà T1. Mục đích T1 lấy xe đạp điện để chị H1 phải đến gặp T1 trả số tiền 10.000.000 đồng như đã hẹn, nếu không thì T1 trừ vào tiền nợ. Khi thấy T1 lấy xe, chị H1 sợ bị đánh tiếp nên không dám phản kháng, ngăn cản, đòi lại xe. Thế A1 biết, chứng kiến toàn bộ việc T1 đòi tiền và dùng tay, chân đánh chị H1, đạp đổ và lấy xe đạp điện của chị H1, vẫn đồng ý giúp sức cho T1 chiếm đoạt chiếc xe này. Sáng ngày 24/8/2024, chị H1 có đơn tố giác gửi Công an xã T.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của chị Vũ Thị H1 và bà Nguyễn Thị L1 cùng ngày 24/8/2024 đều xác định không phát hiện có tổn thương, thương tích gì.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA, màu trắng, xe đã qua sử dụng trị giá 1.530.000 đồng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản trên.

Bản cáo trạng số 22/CT-VKSTT ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình Thép và Nguyễn Đình Thế Anh phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đình T1 và Nguyễn Đình Thế A1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị hại xác nhận không bị thương tích, đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tinh thần với các bị cáo số tiền 15.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền. Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị A xin được nhận lại chiếc xe máy điện là tài sản do chị mua, khi bị cáo T1 thực hiện hành vi phạm tội chị không biết.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình T1 và Nguyễn Đình Thế A1 phạm tội “Cướp tài sản”.
  • - Về hình phạt:
  • Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình T1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 54, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình Thế A1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Thế A1 từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc các bị cáo cùng liên đới bồi thường thiệt hại về tinh thần cho bị hại số tiền 15.000.0000 đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại chị Nguyễn Thị A 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, sơn màu đen, biển kiểm soát 17MĐ8-098.67.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Đình Thế A1, Nguyễn Đình T1, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo Nguyễn Đình Thế A1 và Nguyễn Đình T1 nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận tội, ân hận về hành vi của mình, xin lỗi bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụngtại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/8/2024, Nguyễn Đình T1 và Nguyễn Đình Thế A1 đến nhà bà Nguyễn Thị L1, mục đích để gặp, đòi tiền chị Vũ Thị H1 (con gái bà L1). Do chị H1 không có tiền trả nợ cho T1, T1 đã dùng vũ lực (tay, chân) đánh chị H1 rồi chiếm đoạt chiếc xe đạp điện trị giá 1.530.000 đồng của chị H1, mục đích để trừ nợ. Nguyễn Đình Thế A1 biết, chứng kiến toàn bộ việc T1 đòi tiền và dùng tay, chân đánh chị H1, đạp đổ và lấy xe đạp điện của chị H1 nhưng vẫn đồng ý giúp sức cho T1 chiếm đoạt, mang chiếc xe này về nhà nên đồng phạm với vai trò giúp sức. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng, biên bản xác định hiện trường, vật chứng vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
  3. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Đình T1 và Nguyễn Đình Thế A1 phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

    “Điều 168. Tội cướp tài sản

    1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

    ...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

  4. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo T1 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, các bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình và cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo T1 là người trực tiếp thực hiện hành vi, ngoài ra bị cáo T1 đã từng bị kết án về tội Đánh bạc đã được xóa án tích nay lại tiếp tục vi phạm nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo Thế A1. Bị cáo Thế A1 phạm tội lần đầu, giúp sức có vai trò không đáng kể, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo đều làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã tự nguyện liên đới bồi thường về tinh thần cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên cần ghi nhận.
  7. Về xử lý vật chứng:
    • [7.1] Ngày 24/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T quản lý của Nguyễn Đình T1: 01 xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA, màu trắng, xe đã qua sử dụng (tài sản các bị cáo chiếm đoạt của chị H1) và toàn bộ giấy tờ cá nhân bị cáo T1 đã lấy của chị H1, ngày 07/11/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra C đã trả lại cho chị H1 là đúng quy định của pháp luật.
    • [7.2] Đối với 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, sơn màu đen, biển kiểm soát 17MĐ8-098.67, là tài sản của chị Nguyễn Thị A (vợ bị cáo T1), chị A không biết việc T1 sử dụng chiếc xe đi phạm tội nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị Anh .
  8. Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình T1 và Nguyễn Đình Thế A1 phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 54 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Thế A1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại chị Nguyễn Thị A 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, sơn màu đen, biển kiểm soát 17MĐ8-098.67.

    (Vật chứng có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy).

  4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc các bị cáo đã liên đới bồi thường thiệt hại cho chị Hệ số tiền 15.000.000 đồng (mười năm triệu đồng). Chị H1 đã nhận đủ số tiền trên, các bị cáo không phải bồi thường gì thêm.
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Đình T1 và Nguyễn Đình Thế A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự các bị cáo Nguyễn Đình T1 và Nguyễn Đình Thế A1; chị Vũ Thị H1, chị Nguyễn Thị A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/02/2025.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo.
  • - Người có quyền lợi liên quan.
  • - VKSND Thái Thụy;
  • - Trại tạm giam Thái Bình;
  • - Công an Thái Thụy;
  • - Chi cục THADS Thái Thụy;
  • - CQ THAHS huyện Thái Thụy.
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HCTP;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về cướp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình T và Phạm Đình Thế A phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger