Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 21 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Phong, ông Võ Thanh Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bé L, sinh ngày 19/10/1986 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị B; chồng là Lâm Văn P và có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố L (có mặt).

Bị hại:

- Em Văng Thị Thu M1, sinh năm 2009; trú tại: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ. Do bà Trần Thị Thu D (mẹ) là người giám hộ. (vắng mặt)

- Bà Lê Thị X, sinh năm 1966; trú tại: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

- Anh Trần Nhật M2, sinh năm 1990; trú tại: Khóm B, thị trấn L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

Người liên quan đến vụ án: Ông Lâm Văn P, sinh năm 1983; trú tại: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Phạm Ngọc T; ông Nguyễn Văn S. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 28/10/2024 đến ngày 30/10/2024, Nguyễn Thị Bé L nhiều lần đến Bệnh viện S1 và Bệnh viên Đa khoa trung tâm An Giang lấy trộm tài sản, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ ngày 28/10/2024, L đến khu vực giường bệnh cạnh cầu thang Khoa Tay Chân Miệng của Bệnh viện S1 (số B, đường L, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang) lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 4G, màu đen của em Văng Thị Thu M1 bỏ vào túi áo khoác, L khai sợ có người phát hiện nên khi ra khỏi Bệnh viện S1 đã ném bỏ nhưng không xác định được địa điểm.

- Lần thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 28/10/2024, L tiếp tục đến hành lang lầu 1 của Bệnh viện S1 (số F đường U, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang) lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR của anh Trần Nhật M2 để vào túi áo khoác mang về nhà cất giấu.

- Lần thứ ba: Khoảng 07 giờ ngày 30/10/2024, L đến hành lang lầu 1 của Bệnh viện S1 lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53, màu xanh của bà Lê Thị X để vào túi áo khoác bên phải đi đến tầng trệt thì bị bảo vệ của Bệnh viện nghi ngờ nên giữ lại và trình báo công an phường M, tại Công an phường M đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh đen do Nguyễn Thị Bé L giao nộp;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu tím do Lâm Văn P giao nộp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 2103/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong Tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L xác định:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh đen, đã qua sử dụng, trị giá 750.000 đồng;

- 01 ốp lưng nhựa điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh đỏ trắng, đã qua sử dụng, trị giá 25.000 đồng;

- 01 sim điện thoại di động V, số thuê bao 0346 792 951, đã qua sử dụng, trị giá 80.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR, đã qua sử dụng, trị giá 3.990.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A14 4G, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 2.793.000 đồng;

- 01 ốp lưng nhựa điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A14 4G, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 10.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 7.648.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số: 35/CT-VKSLX ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Nguyễn Thị Bé L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại, người làm chứng, người liên quan đến vụ án đều vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

- Tại phiên toà, bị hại, người làm chứng, người liên quan đến vụ án đều vắng mặt dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo L đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Trong ngày 28/10/2024 và ngày 30/10/2024 tại Bệnh viện S1 và Bệnh viện S1, bị cáo L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 03 điện thoại di động với tổng trị giá là 7.648.000 đồng. Hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo còn tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại Văng Thị Thu M1 số tiền 3.400.000 đồng và giao nộp điện thoại di động đã lấy trộm của anh Trần Nhật M2; bị cáo đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại nên không đặt ra xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bé L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/10/2024).

Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị Bé L phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Long Xuyên;
  • - Công an thành phố Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an Tp. Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ - Công an Tp. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bé L phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger