Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21/02/2025

V/v ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Liêu Văn Lộc.
  2. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 393/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 32/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Trúc L, sinh năm 1989; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0939.805.xxx

  3. Bị đơn: Anh Hồ Ngọc P, sinh năm 1988; (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0944.771.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Trương Thị Trúc L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Hồ Ngọc P do tìm hiểu tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 2013 có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn

tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến khoảng tháng 10/2023 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình hai bên không còn hợp nhau, anh P không lo làm ăn. Chị và anh P ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu ly hôn với anh P.

- Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Hồ Trương Minh L1, sinh ngày 28/10/2016 và Hồ Trương Minh Đ, sinh ngày 19/3/2023. Hiện 02 cháu đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi 02 con chung hàng tháng theo quy định pháp luật.

* Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 13/02/2025 chị L trình bày về con chung: có 02 con chung tên Hồ Trương Minh L1, sinh ngày 28/10/2016 và Hồ Trương Minh Đ, sinh ngày 19/3/2023. Hiện 02 cháu đang sống với tôi. Khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi các con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Hồ Ngọc P để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng anh P đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

+ Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Trúc L. Về con chung: đề nghị giao hai cháu Hồ Trương Minh L1Hồ Trương Minh Đ cho chị L tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Trong quá trình tố tụng chị L yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi hai con chung hàng tháng theo quy định pháp luật. Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị L rút yêu cầu cấp dưỡng, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi hai con chung. Việc rút yêu cầu này là hoàn toàn tự nguyện, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này. Về cấp dưỡng: anh P không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do chị L không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét.

Về án phí: chị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Trương Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Hồ Ngọc P và yêu cầu nuôi con, bị đơn anh P hiện có nơi cư trú tại: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp ly hôn, nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Ngày 21/02/2025, nguyên đơn chị Trương Thị Trúc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn anh Hồ Ngọc P đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Trúc L thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Theo nguyên đơn chị L trình bày thì chị và bị đơn anh P do tìm hiểu mới tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị được xem là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến khoảng tháng 10/2023 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình hai bên không hoà hợp, anh P không lo làm ăn để chăm lo kinh tế gia đình.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để chị L và anh Phong hàn G tình cảm, nhưng chị L vẫn kiên quyết ly hôn, anh P được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh P không có nguyện vọng đoàn tụ với chị L. Chị L và anh P đã ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, nhưng anh, chị không hàn gắn tình cảm lại được.

Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của chị L và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

[2.2] Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Hồ Trương Minh L1, sinh ngày 28/10/2016 và Hồ Trương Minh Đ, sinh ngày 19/3/2023. Hiện 02 con chung đang sống với chị L. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 02/12/2024 cháu Hồ Trương Minh L1 có nguyện vọng sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay hai cháu L1 và Đ đã sống ổn định với chị L, anh P không có ý kiến được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Do đó, để đảm bảo cuộc sống

của các cháu được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, giao hai cháu L1Đ cho chị L tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị L phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh P được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai cản trở khi anh P thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng: Trong quá trình tố tụng chị L yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi hai con chung hàng tháng theo quy định pháp luật. Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 13/02/2025, chị L rút yêu cầu cấp dưỡng, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi hai con chung. Xét thấy, việc chị L rút yêu cầu cấp dưỡng là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này. Về cấp dưỡng: anh P không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do chị L không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0005044 ngày 25/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Trúc L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Trúc L được ly hôn với anh Hồ Ngọc P.
  2. Về quan hệ con chung: có 02 con chung: Hồ Trương Minh L1, sinh ngày 28/10/2016 và Hồ Trương Minh Đ, sinh ngày 19/3/2023. Chị L được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Hồ Trương Minh L1Hồ Trương Minh Đ.

    Về cấp dưỡng: Đình chỉ xét xử yêu cầu của nguyên đơn chị L đối với yêu cầu bị đơn anh P cấp dưỡng nuôi hai con chung hàng tháng theo quy định pháp luật.

    Anh Hồ Ngọc P không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung do chị L không yêu cầu.

    Chị L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh P thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Hồ Trương Minh L1Hồ Trương Minh Đ.

    Nếu người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người còn lại thì người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng dựa trên các quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  4. Về án phí: Chị Trương Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0005044 ngày 25/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị Trúc L và anh Hồ Ngọc P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Bình Hòa;
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hon
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger