Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 20/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê.

Ông Nguyễn Hoàng Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Mỹ Linh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Thân Văn Nhất - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 26/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Chung N, sinh năm 1998; tên gọi khác: không; giới tính: nam; nơi ĐKTT: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: lớp 06/12; con ông: Ngô Văn N1, sinh năm 1966 và con bà: Vương Thị C, sinh năm 1970; Gia đình có 3 anh em ruột, bị cáo là con thứ 3; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án:

- Bản án số 66/2019/HSST, ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 234/2020/HS-ST, ngày 13/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với bản án số 66/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc. Buộc N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngày 24/4/2022, N chấp hành xong án phạt tù về địa phương.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

Bản án phúc thẩm số 146/2017/HSPT, ngày 07/3/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo Ngô Chung N:

+ Luật sư Nguyễn Thị Nhật L – Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: Số F, phố N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

* Bị hại: Công ty H1

Địa chỉ trụ sở chính: Một phần lô CN7, Cụm C, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Park Sung J – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Diệu H – Chức vụ: Quản lý hành chính nhân sự. (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1995.
  2. Chị Đỗ Thanh N2, sinh năm 1997

Cùng trú tại: Số F, ngõ B, tổ dân phố V, phường M, quận B, thành phố Hà Nội. (đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

  1. Chị Mẫn Thị M, sinh năm 1992. (vắng mặt)

Trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

  1. Ông Ngô Văn S, sinh năm 1963. (có mặt).

Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn B:

Ông Tạ Văn P và bà Giáp Thị T – Luật sư thuộc Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ: Phòng C, tòa nhà S, số B L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Chung N, sinh năm 1998, nơi thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang, nơi ở hiện tại: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang, là công nhân làm tại bộ phận lò hàn thiếc của Công ty H1 (viết tắt là Công ty), địa chỉ tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, N biết vị trí Công ty để thiếc, sơ đồ đi lại, thời điểm Công ty sở hở ít người trông coi tài sản. Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên đêm ngày 18/4/2024 và đêm ngày 21/4/2024, N đã đột nhập vào kho chứa nguyên liệu của Công ty, trộm cắp 530 kg thiếc các loại (Thiếc nguyên liệu) có tổng trị giá là 506.454.000 đồng (Năm trăm linh sáu triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn đồng), rồi đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, N đi bộ một mình từ nhà trọ đến Công ty để trộm cắp thiếc, đến nơi N lách người đi qua cổng phụ đi vào khu xưởng sản xuất của Công ty, N đi đến bảng điện dập cầu dao, tắt toàn bộ điện trong khu nhà xưởng để camera an ninh không hoạt động. Sau đó, N đi đến khu vực kho để nguyên vật liệu trong khu nhà xưởng, qua cửa phụ lấy một xe đẩy, đẩy đến khu vực để thiếc trong góc kho để nguyên vật liệu. Do kho có cửa khóa bằng khóa dây, nên N trèo qua cánh cửa vào trong kho rồi lần lượt bê 12 hộp thiếc (trong đó có 02 hộp thiếc cuộn loại 10kg/01 hộp và 10 hộp thiếc thanh loại 20kg/01 hộp) đưa ra ngoài qua khe cánh cửa, sau đó trèo qua cánh cửa ra ngoài, N bê đặt 12 hộp thiếc trộm cắp được lên xe, đẩy ra ngoài qua cổng phụ, cất giấu ở bờ rào cách cổng Công ty khoảng 50 mét. Sau đó, N đẩy xe về công ty để vào vị trí ban đầu, bật cầu dao điện lên rồi đi bộ qua cổng phụ về nhà.

Sau khi về nhà, N truy cập vào mạng xã hội facebook với tài khoản là “N” để tìm kiếm người mua số thiếc mà N trộm cắp được. Quá trình tìm kiếm, N thấy nick facebook tên là “Nguyễn Binh” của Nguyễn Văn B, sinh năm 1995, trú tại Tổ dân phố V, phường M, quận B, thành phố Hà Nội có đăng bài trên nhóm với nội dung mua bán thiếc, có số điện thoại liên hệ là 0868.533.xxx. N kết bạn qua Zalo của N tên là “N” với B thấy hiển thị tên là “Italy”. N nhắn tin, gọi điện qua M1 và Z để nói chuyện, trao đổi với B về việc bán số thiếc trên thì B đồng ý mua với giá 720.000 đồng/01kg. Sau đó, B gửi vị trí để N mang thiếc đến bán cho B. Sau khi có địa chỉ, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu VARIO 150, màu sơn Đỏ Đen, biển kiểm soát 60F3-029.90 đến địa điểm cất giấu, chở 12 hộp thiếc đi đến đỗ tại vỉa hè đường DX8, thuộc địa phận thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để bán cho B. Đến nơi, N gặp B điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, màu ghi, gắn biển kiểm soát số 23A-065.46 đến. Sau khi kiểm tra, B xác định không phải là loại thiếc có bạc nên chỉ trả N với giá 620.000 đồng/01kg. N với B không cân cụ thể khối lượng mà chỉ đếm hộp, ước tính tổng khối lượng thiếc mà N bán là 110kg, thành tiền là 68.200.000 đồng. Do tính nhầm với giá 720.000 đồng/01kg nên B đã chuyển khoản trả N số tiền 70.000.000 đồng và đưa cho N tiền mặt 9.200.000 đồng. Chuyển khoản xong, B phát hiện đã tính nhầm nên đã lấy lại số tiền mặt 9.200.000 đồng, N bớt cho B 200.000 đồng nên N chỉ lấy của B tổng số tiền là 68.000.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 19/4/2024, B đã mang toàn bộ số thiếc mua được của N đến bán cho Mẫn Thị M, sinh năm 1992, trú tại thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh với giá 640.000 đồng/01kg. Toàn bộ số thiếc mua được của B, M khai đã bán cho một khách buôn người Trung Quốc không biết tên tuổi, địa chỉ, đi xe ô tô thu mua qua khu vực nhà M nên không thu hồi được.

Vụ thứ 2: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, N tiếp tục đi bộ một mình từ nhà qua cổng phụ vào Công ty để trộm cắp thiếc. Khi vào trong Công ty thấy có người đang sửa chữa máy nên N đã đợi tại phòng thiết bị của Công ty. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi những người sửa chữa máy đi về hết, N liền đi bộ đến khu vực bảng điện của Công ty và dập cầu dao để tắt điện trong khu nhà xưởng sản xuất. Tắt điện xong, N đi vào kho chứa nguyên vật liệu bằng cửa phụ, lấy chiếc xe đẩy, đẩy đến để ở cửa kho rồi đi đến bàn máy tính lấy chìa khóa kho (trước đó N thấy chìa khóa kho để trên mặt bàn), N đi đến mở khóa vào trong kho lấy trộm được 10 cuộn thiếc (khối lượng 20kg/01 cuộn); 06 hộp thiếc (trong đó có 01 hộp thiếc loại 10kg/01 hộp và 05 hộp thiếc loại 20kg/01 hộp), Nam bê đặt lên xe đẩy, khóa cửa và mang chìa khóa để lại vị trí cũ, đẩy xe chở số thiếc trộm cắp được ra ngoài qua cổng phụ của Công ty, cất giấu ở bờ rào hôm trước rồi mang xe đẩy về để ở trị trí cũ, bật cầu dao điện lên. Sau đó N về nhà, đi xe mô tô đến vị trí cất giấu, vận chuyển hai chuyến chở hết số thiếc trộm cắp được đến để tại ngã ba gần bờ đê thôn N, cách nhà N khoảng 200 m. N liên hệ với B đến để hai người tiếp tục mua bán số thiếc mà N vừa trộm cắp được. Khi B đến nơi, N và B ước tính khối lượng thiếc là 220kg, giá mua bán là 620.000 đồng/1kg. B chuyển khoản trả Nam 48.000.000 đồng và trả tiền mặt là 88.400.000 đồng. Toàn bộ số thiếc mua được của N, ngày 22/4/2024, B khai liên hệ và bán cho người đàn ông tên L1, không rõ địa chỉ (Quốc tịch Trung Quốc) với giá 640.000 đồng/01kg nên không thu hồi được.

Ngày 23/4/2024, chị Trần Thị Diệu H, sinh năm 1993, trú tại thôn S, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội, là người đại diện cho Công ty theo Giấy ủy quyền ngày 23/4/2023 của Giám đốc Công ty là ông LE KIHO, làm đơn trình báo vụ việc Công ty bị trộm cắp tài sản, gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H (BL 66-68).

Ngày 27/4/2024, Ngô Chung N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú, giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vario 150 màu đỏ đen, BKS: 60 F3 - 029.90 (BL 91). Khám xét chỗ ở của N, Cơ quan điều tra thu giữ 01 thẻ nhớ Kingsron CANVAS Select Plus, màu đen 32GB (BL 106-107). Khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn B, Cơ quan điều tra thu giữ 02 kiểm soát số 23A-065.46 (BL 109-110). Ngày 27/4/2024, Nguyễn Văn B giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet - Captiva, biển kiểm soát 30K-667.19 cùng giấy tờ có liên quan; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro (BL 295-299); Ngày 05/5/2024, chị Trần Thị Diệu H, giao nộp cho Cơ quan tra 01 (một) đĩa DVD, trên đĩa lưu trữ 02 (hai) file video trích từ hệ thống camera an ninh của Công ty, ghi lại hình ảnh N thực hiện hành vi trộm cắp thiếc vào đêm ngày 18/4/2024 và đêm ngày 21/4/2024 (BL 293).

Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra, kết quả Nam thực hiện được các động tác như nội dung vụ án đã nêu ở trên (BL 262-274).

Bản Kết luận giám định số 1094/KL-KTHS ngày 20/5/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Trích xuất và khôi phục được 6,02MB dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn từ ứng dụng Zalo, Facebook M1 (thời gian từ ngày 15/4/2024 đến ngày 27/4/2024) lưu trữ trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21, thu giữ của Ngô Chung N.

- Trích xuất và khôi phục được 89,0MB dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn từ ứng dụng Zalo, Facebook M1 (thời gian từ ngày 15/4/2024 đến ngày 27/4/2024) lưu trữ trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro, tạm giữ của Nguyễn Văn B.

(Chi tiết dữ liệu thể hiện trong thư mục có tên “Dữ liệu”, tổng dung lượng 95,1MB, được lưu trữ trong 01 đĩa CD-R nhãn hiệu Maxell, màu vàng). Quá trình kiểm tra nội dung đã trích xuất, khôi phục, không phát hiện tin nhắn SMS, tin nhắn từ ứng dụng Zalo, Facebook M1 thể hiện việc trao đổi, mua bán thiếc giữa B với N (BL 119).

Bản Kết luận giám định số 1443/KL-KTHS ngày 02/7/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong đĩa DVD-R do chị Trần Thị Diệu H giao nộp;

- File video có tên “Kho_2_Sungho1_20240418.avi", dung lượng: 56.1MB, thời lượng: 01 giờ 04 phút 59 giây.

- File video có tên “Kho_2_Sungho1_20240421.avi”, dung lượng: 111MB, thời lượng: 02 giờ 07 phút 24 giây.

- Trích xuất được 22 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc trong file video gửi giám định (BL 130). Cơ quan điều tra cho bị can N quan sát hình ảnh trích xuất, Nam xác nhận hình ảnh nam thanh niên thực hiện hành vi trộm cắp thiếc của Công ty vào đêm ngày 18/4/2024 và đêm ngày 21/4/2024 là hình ảnh của N.

Bản Kết luận định giá số 26/KL-HDĐGTS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:

- 300 kg thiếc hàn, chủng loại SOLDER BAR,S100 có giá 254.081.000 đồng.

- 200 kg thiếc hàn, chủng loại SOLDER WIRE,99.7 có giá 227.423.000 đồng.

- 30 kg thiếc hàn, chủng loại SOLDER WIRE, HSE-04 có giá 24.950.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 506.454.000 đồng (Năm trăm linh sáu triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn đồng) (BL 114-115).

* Về trách nhiệm dân sự: quá trình chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000đồng vào Cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả cho bị cáo.

* Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKSBG-P2 ngày 20/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Ngô Chung N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Ngô Chung N thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo xác nhận đã hai lần trộm cắp thiếc nguyên liệu của Công ty H1 vào các ngày 18/4/2024 và ngày 21/4/2024, bị cáo không có ý kiến gì với kết luận định giá tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty H1 là bà Trần Thị Diệu H trình bày: Công ty yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tài sản bị thiệt hại là 506.454.000đồng. Về hình phạt đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn S trình bày: ông là bác của bị cáo N, khi N thực hiện hành vi phạm tội ông và gia đình không biết. Ông đã được chị V là chị gái bị cáo uỷ quyền nhận lại chiếc xe mô tô của chị V, ông không có ý kiến gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, HĐXX công bố lời khai của những người này trong quá trình điều tra. Các bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về lời khai của những người này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang giữ nguyên bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 (Mười hai) năm đến 12 (Mười hai) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Ngô Chung N phải bồi thường cho công ty TNHH H1 số tiền 506.454.000 đồng, được trừ số tiền 5.000.000đồng gia đình bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 501.454.000đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Trả lại bị cáo Ngô Chung N: 01 (một) phong bì của Công an huyện H được dán kín niêm phong, ghi ký hiệu “Thẻ nhớ nhà Ngô Chung N”, bên trong phong bì có 01 ( một) thẻ nhớ Kingston CANVAS Select Plus, màu đen 32GB.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) phong bì niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H được dán kín, ghi ký hiệu “Điện thoại của Ngô Chung N”, bên trong phong bì có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 FE, IMEI 1: 354050730097760, IMEI 2: 355962510097761.

Về án phí: Bị cáo Ngô Chung N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Chung N trình bày tranh luận: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình nộp được số tiền 5 triệu đồng khắc phục thiệt hại, tuy không nhiều nhưng bị cáo cũng xác định khắc phục dần dần, bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 11 năm đến 12 năm tù.

Bị cáo N nhất trí ý kiến phát biểu bào chữa của Luật sư cho bị cáo và không tranh luận gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu đối với ý kiến tranh luận của Luật sư: giữ nguyên quan điểm đã phát biểu về đề nghị mức hình phạt cũng như phần trách nhiệm dân sự, án phí đối với bị cáo N.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Ngô Chung N xin được giảm nhẹ mức hình phạt để sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn B, chị Đỗ Thị N3 và chị Mẫn Thị M đã được tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng anh B và chị N3 có đơn xin xét xử vắng mặt, chị M vắng mặt không có lý do. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của những người này nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Xét hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết quả định giá, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Ngô Chung N là công nhân làm tại bộ phận lò hàn thiếc của Công ty H1, địa chỉ tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, N biết vị trí Công ty để thiếc, sơ đồ đi lại, thời điểm Công ty sở hở ít người trông coi tài sản. Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên đêm ngày 18/4/2024 và đêm ngày 21/4/2024, N đã hai lần đột nhập vào kho chứa nguyên liệu của Công ty, trộm cắp tổng số 530 kg thiếc các loại (Thiếc nguyên liệu), tổng tài sản trị giá là 506.454.000 đồng (Năm trăm linh sáu triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn đồng) rồi đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Bị cáo Ngô Chung N đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cố ý của mình là vi phạm pháp luật hình sự, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Hành vi nêu trên của bị cáo Ngô Chung N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo N về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hậu quả để áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[5]. Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử bằng hình sự nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Ngô Chung N phạm tội 02 lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Ngô Chung N trước khi bị phát hiện đã đến Cơ quan Công an đầu thú, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã nộp số tiền 5 triệu đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo có ông ngoài là ông Vương Văn T1 được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, đánh giá về nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có ý nghĩa răn đe phòng ngừa chung.

[6]. Do bị cáo đang bị tạm giam nên căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty H1 không nhận lại được tài sản bị mất và chưa nhận được số tiền bồi thường nên yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho công ty đủ số tiền 506.454.000 đồng (Năm trăm linh sáu triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn đồng). Do vậy, buộc bị cáo Ngô Chung N phải bồi thường cho Công ty H1 số tiền 506.454.000 đồng (Năm trăm linh sáu triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn đồng). Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 đồng vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang để bồi thường cho bị hại. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 501.454.000 đồng (Năm trăm linh một triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn đồng).

[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Ngô Chung N có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9]. Các vấn đề khác:

Nguyễn Văn B là người đã mua số thiếc nêu trên của Ngô Chung N sau đó bán cho Mẫn Thị M. B và M khai khi mua không biết số thiếc đó là tài sản do N trộm cắp, không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh B và M biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Hội đồng xét xử chưa có cơ sở để xem xét.

Người đàn ông tên L1 (Quốc tịch Trung Quốc) mua thiếc của N và người đàn ông Quốc tịch Trung Quốc mua thiếc của M, do N và M không biết họ tên, năm sinh và địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Kết quả điều tra số đồ vật thu giữ, xác định: Trong thẻ nhớ thu giữ được tại nhà N không lưu trữ file video nào liên quan đến hành vi phạm tội của N (BL 326). Chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 60F3-029.90 là chị Ngô Thị V, sinh năm 1989, trú tại Tổ G, khu D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (chị ruột của N) đã cho N mượn làm phương tiện đi lại. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro là của chị Đỗ Thanh N2 (là vợ B) cho B mượn. Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet - Captiva, biển kiểm soát 30K-667.19 là xe ô tô của vợ chồng B mua lại của người khác đã làm thủ tục sang tên chủ sở hữu là chị Đỗ Thanh N2. Hai chiếc biển kiểm soát xe ô tô có dãy số 23A-065.46 là do vợ chồng B đặt mua trên mạng xã hội để sử dụng trong thời gian chờ cấp biển số mới.

Ngày 10/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô biển kiểm soát 60F3-029.90 cho ông Ngô Văn S, sinh năm 1963, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (ông S được chị V ủy quyền) (BL 338-339) là có căn cứ.

Ngày 23/8/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là chị Đỗ Thanh N2 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet - Captiva, biển kiểm soát 30K-667.19 cùng giấy tờ liên quan và chiếc thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro, là có căn cứ.

Ngày 08/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định tách vật chứng đối với 02 biển kiểm soát xe ô tô có dãy số 23A-065.46, chuyển đến Công an huyện H để xem xét xử lý theo quy định

[10]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 FE, IMEI 1: 354050730097760, IMEI 2: 355962510097761 trong phong bì niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H được dán kín, ghi ký hiệu “Điện thoại của Ngô Chung N” là công cụ mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội do đó cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 (một) thẻ nhớ Kingston CANVAS Select Plus, màu đen 32GB nằm trong phong bì của Công an huyện H được dán kín niêm phong, ghi ký hiệu “Thẻ nhớ nhà Ngô Chung N”, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo N.

[11]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Ngô Chung N phải chịu án phí HSST và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 506.454.000đồng phải bồi thường cho bị hại, cụ thể: 20.000.000đồng + 94% x 101.454.000đồng) = 24.058.160đồng.

[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Ngô Chung N 12 (Mười hai) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. Về trách nhiệm dân sự:

căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Ngô Chung N phải bồi thường cho Công ty H1 số tiền 506.454.000 đồng (Năm trăm linh sáu triệu bốn trăm năm mươi tư nghìn đồng). Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai số 0000293 ngày 17/02/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho Công ty H1 số tiền 501.454.000 đồng (Năm trăm linh một triệu, bốn trăm năm mươi tư nghìn đồng).

  1. Về xử lý vật chứng:

căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 FE, IMEI 1: 354050730097760, IMEI 2: 355962510097761 trong phong bì niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H được dán kín, ghi ký hiệu “Điện thoại của Ngô Chung N".

Trả lại bị cáo Ngô Chung N: 01 (một) thẻ nhớ Kingston CANVAS Select Plus, màu đen 32GB nằm trong phong bì của Công an huyện H được dán kín niêm phong, ghi ký hiệu “Thẻ nhớ nhà Ngô Chung N”.

(Các vật chứng nêu trên được mô tả đúng theo Quyết định chuyển vật chứng số 65/QĐ/VKS-P2 ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2024).

  1. Về án phí:

căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Ngô Chung N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 24.058.160đồng (Hai mươi tư triệu, không trăm năm mươi tám nghìn, một trăm sáu mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Về lãi suất chậm thi hành án:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (sau khi bản án có hiệu lực pháp luật), do không thỏa thuận được lãi suất chậm trả thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  1. Về hướng dẫn thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; bị hại; Người TGTT khác;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 20/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 26/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Ngô Chung N, sinh năm 1998; tên gọi khác: không; giới tính: nam; nơi ĐKTT: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: lớp 06/12; con ông: Ngô Văn N1, sinh năm 1966 và con bà: Vương Thị C, sinh năm 1970; Gia đình có 3 anh em ruột, bị cáo là con thứ 3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: - Bản án số 66/2019/HSST, ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. - Bản án số 234/2020/HS-ST, ngày 13/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với bản án số 66/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc. Buộc N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngày 24/4/2022, N chấp hành xong án phạt tù về địa phương. Tiền sự: không. Nhân thân: Bản án phúc thẩm số 146/2017/HSPT, ngày 07/3/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger