TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14/02/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà | Lê Thị Tân |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông | Đầu Khắc Dinh |
| Ông | Bùi Thế Huệ |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 221/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị B, sinh năm: 1992, “Vắng mặt”.
Nơi ĐKHKTT: Số nhà H, TDP H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Thôn N, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương. - Bị đơn: Anh Lê Anh C, sinh năm: 1995, “Vắng mặt”.
Hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: TDP H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Đài Loan
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Trân Thị B trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Anh C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 30/3/2018 tại UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị B đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, đến tháng 10/2023 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ khi anh C đi Đài Loan đến nay chưa về Việt Nam lần nào, vợ chồng cũng không liên lạc gì với nhau.
Hiện nay, anh C cố tình giấu địa chỉ ở Đài Loan với chị nhưng chị được biết anh C vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ ruột là bà Hoàng Thị D và ông Lê Văn T, có địa chỉ tại Số nhà H, tổ dân phố H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Lê Thị Triệu V, sinh ngày 19/8/2018 và cháu Lê Anh Đ, sinh ngày 27/3/2020 hiện hai cháu đều đang ở cùng ông bà nội. Khi ly hôn nguyện vọng của chị là được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai cháu. Chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại các biên bản làm việc ngày 12/12/2024, bà Hoàng Thị D(mẹ đẻ anh Lê Anh C) trình bày:
- Về hôn nhân: Anh C và chị B đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh C chị B chung sống cùng với với Ông T và bà D, quá trình chung sống bà D không thấy anh chị có mâu thuẫn gì, nhưng đầu năm 2020 chị B không sống cùng ông bà nữa mà chuyển về sinh sống cùng bố mẹ đẻ, đến tháng 10/2023 thì anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ khi anh C đi đến nay chưa về Việt Nạm lần nào. Nay chị B có đơn xin ly hôn thì gia đình cũng đã báo cho anh C biết và anh C cũng đồng ý ly hôn.
Từ khi đi nước ngoài đến nay, anh C vẫn thường xuyên gọi điện về cho gia đình qua điện thoại. Tuy nhiên về địa chỉ cụ thể của anh C ở Đài Loan thì gia đình không được biết nên không thể cung cấp cho Tòa án, anh C có nhờ bà D nhận các văn bản của Tòa án và giao lại cho anh C.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Lê Thị Triệu V, sinh ngày 19/8/2018 và cháu Lê Anh Đ, sinh ngày 27/3/2020 hiện hai cháu đều đang ở cùng ông bà. Khi ly hôn nguyện vọng của chị B là được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai cháu. Bà D đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản, công nợ chung: Bà D không biết vợ chồng chị B và anh C có tài sản chung gì.
Toà án gửi cho anh C các văn bản của Toà án thì bà D sẽ nhận và có trách nhiệm thông báo cho anh C được biết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc thực hiện các thủ tục kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định.
- Về nội dung: Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị B, xử cho chị B được ly hôn anh C. Về con chung: Giao các cháu Lê Thị Triệu V, sinh ngày 19/8/2018 và cháu Lê Anh Đ, sinh ngày 27/3/2020 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, chị B không yêu cầu anh C phải đóng góp tiền nuôi con chung nên anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Trần Thị B là nguyên đơn đang cư trú tại huyện G, tỉnh Hải Dương, bị đơn là anh Lê Anh C có hộ khẩu thường trú tại: Phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị B chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh C ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh C tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Hoàng Thị D là mẹ đẻ của anh C trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh C ở Đài Loan. Tuy anh C thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Bà Hoàng Thị D vân thường xuyên liên lạc với anh C nên đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh C được biết. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị B có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Lê Anh C mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Chị Trần Thị B và anh Lê Anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị B đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn và ly thân một thời gian, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên anh chị đã không liên hệ với nhau, chị B không có địa chỉ của anh C tại Đài Loan nên không cung cấp địa chỉ của anh C cho Tòa án được, thông qua gia đình thì bà D mẹ anh C trình bày về việc anh C đã biết chị B có đơn xin ly hôn và anh C cũng đồng ý ly hôn.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị B đã có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị B được ly hôn anh C.
[2.2]. Về con: Chị B và anh C có 02 con chung là cháu Lê Thị Triệu V, sinh ngày 19/8/2018 và cháu Lê Anh Đ, sinh ngày 27/3/2020. Chị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của chị B xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay anh C đang lao động tại Đài Loan nên không thể trực tiếp nuôi con được. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho 2 cháu, cần giao hai cháu cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị B tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị B phù hợp quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh C không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh C yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3]. Về án phí: Chị B là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị B.
- - Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị B được ly hôn anh Lê Anh C.
- - Về con: Công nhận các cháu Lê Thị Triệu V, sinh ngày 19/8/2018 và cháu Lê Anh Đ, sinh ngày 27/3/2020 là con chung của chị Trần Thị B và anh Lê Anh C. Giao cháu Lê Thị Triệu V và cháu Lê Anh Đ cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Lê Anh C có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Trần Thị B phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí do chị Nguyễn Thị T1 nộp thay chị B theo Biên lai thu số ký hiệu BLTU/23 số 0000722 ngày 04/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. (Chị B đã nộp đủ án phí).
- - Về quyền kháng cáo:
Chị Trần Thị B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Lê Anh C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Tân |
Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị B khởi kiện ly hôn anh Lê Anh C
