TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 13-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quỹ
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Lam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn G, sinh năm 1994, tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình Ủ và bà Lê Thị Q; có vợ là Trần Thị Nhật Q1 (Đăng ký kết hôn ngày 22-10-2024), chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 9-10-2024 chuyển tạm giam từ ngày 28-10-2024. Ngày 01-11-2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Đinh Văn C, sinh năm 1940 (đã chết).
Những người đại diện hợp pháp của ông Đinh Văn C:
- - Bà Trần Thị C1, sinh năm 1945; Nơi cư trú: Số B đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- - Chị Đinh Thị Thu H, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Số A đường T, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- - Anh Đinh Văn T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Số B đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- - Chị Đinh Thị Thu H1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Số B M, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- - Chị Đinh Thị Bích H2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Số H đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- - Chị Đinh Thị Mai H3, sinh năm 1980; Nơi cư trú: TT N, phường N (phường T cũ), thành phố N, tỉnh Nam Định;
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị C1, chị Đinh Thị Thu H, chị Đinh Thị Thu H1, chị Đinh Thị Bích H2, chị Đinh Thị Mai H3 là: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Số B đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 19-10-2024, Trần Văn G (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 18B1-513.66 lưu thông trên đường L, phường V, thành phố N từ đường T đến đường H với vận tốc khoảng 50km/h trong điều kiện trời sáng, không mưa, mặt đường khô ráo, tầm nhìn không bị hạn chế, mật độ người và phương tiện tham gia giao thông bình thường. Khi đến vị trí cách số nhà A đường L khoảng 20m, Giỏi quan sát thấy phía trước cùng chiều có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen do một người phụ nữ điều khiển, đi cách mép đường bên phải khoảng 2m với vận tốc khoảng 30 km/h, G giữ nguyên tốc độ, điều khiển xe vượt chiếc xe mô tô này. Quá trình vượt, G không có tín hiệu còi, chỉ quan sát phía bên trái mà không quan sát phía trước và bên phải. Khi xe mô tô do G điều khiển vừa vượt qua chiếc xe mô tô trên thì G nhìn thấy ông Đinh Văn C, sinh năm 1940, trú tại 2 đường L, phường V, thành phố N đang đi bộ sang đường hướng từ phía bên phải qua phía bên trái theo hướng đi của G điều khiển. Giỏi đánh tay lái sang phải để tránh, tuy nhiên do khoảng cách quá gần nên phần đầu bên trái xe mô tô Giỏi điều khiển đã xô vào phần thân người bên trái ông C làm ông C bị đẩy về phía trước khoảng 15m, ngã đập đầu xuống đường, được đưa cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N nhưng đã tử vong vào hồi 16 giờ ngày 19-10-2024.
Ngày 19-10-2024 sau khi vụ án xảy ra Trần Văn G đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú.
Khám nghiệm hiện trường:
Khu vực đường trước ngõ A đường L, phường V, thành phố N được trải nhựa bằng phẳng, chiều rộng mặt đường là 9m90, được phân chia thành hai chiều đường xe chạy bằng vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn. Chiều đường xe chạy hướng từ đường T về đường H có bề rộng 4m80. Ngõ 189 có bề rộng là 3m.
Mảnh nhựa vỡ (1) trên mặt đường L, kích thước (0,05 x 0,02)m, tâm cách mép đường chuẩn là 0,25m, cách mốc ngõ A là 7m90.
Dép nhựa (2) bên phải trên mặt đường L, kích thước (0,10 x 0,25)m, tâm cách mép đường chuẩn là 7m85, cách mốc ngõ A là 4m60, cách tâm vết (1) là 7m45.
Vết máu (3) không rõ hình rải rác trên mặt đường L, kích thước (0,40 x 0,60)m, tâm cách vết (2) là 6m75.
Mảnh nhựa vỡ (4) không rõ hình trên mặt đường L, kích thước (0,40 x 0,25)m, tâm cách mép đường chuẩn là 7m80, cách tâm vết (3) là 1m35.
Mũ bảo hiểm (5) trên mặt đường L, kích thước (0,20 x 0,27)m, tâm cách mép đường chuẩn là 7m90, cách tâm vết (4) là 1m20.
Vết miết (6) trên mặt đường L, hướng từ đường T về đường H, kích thước (8,60 x 0,06)m. Điểm đầu cách mép đường chuẩn là 2m25, điểm cuối trùng với giá để chân người ngồi sau xe mô tô biển số 18B1-513.66, cách tâm vết (5) là 5m75.
Vết cày (7) trên mặt đường L, chiều hướng từ đường T về đường H dài 6m90. Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 2m25, điểm cuối trùng với đầu mỏm chân chống bên trái xe mô tô biển số 18B1-513.66.
Xe mô tô (8) biển kiểm soát 18B1-513.66 đổ ngả trái trên đường L, đầu xe quay hướng về mép đường chuẩn, đuôi xe hướng đường đối diện với mép đường chuẩn. Đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn là 0m65, đầu trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn là 2m00.
Khám nghiệm phương tiện xe mô tô:
Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH 125i, màu sơn trắng đen, biển số 18B1-513.66, số khung RLHIF 4219DV111069, số máy JF42E0111091. Tại mặt ngoài ốp nhựa mặt nạ có vết va chạm làm vỡ mặt nạ trên khung kim loại bắt giữ ốp mặt nạ còn dính chất dịch mô cơ màu đỏ, vết có chiều từ trước về sau; tại mặt ngoài cánh yếm chắn gió phía trước, bên trái xe có vết trượt chùi sạch bụi đất, vết có chiều từ trước về sau; tại mặt ngoài chắn bùn bên trái phía trước đầu xe có vết trượt làm chùi sạch bụi đất, trên mặt vết còn dính chất màu xanh, vết có chiều từ trước về sau.
Tại phiếu trả lời xác minh ngày 21-10-2024 của Công an thành phố N, xác định xe mô tô biển số 18B1-51.366, nhãn hiệu Honda, số loại SH125i, màu sơn trắng đen, dung tích xi lanh 124,8cm3, chủ xe mang tên Trần Văn G, địa chỉ xã M, huyện M, tỉnh Nam Định.
Quá trình điều tra xác định tại thời điểm xảy ra vụ việc trong hơi thở của G không có nồng độ cồn, trong nước tiểu không chứa chất ma túy.
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1771/KLGĐTT-KTHS ngày 23-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Nạn nhân Đinh Văn C chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ; Cơ chế do va đập và chà xát.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành thu giữ và trưng cầu 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ việc. Tại bản kết luận giám định số 1843/KL-KTHS ngày 20-11-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- - Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định (Ký hiệu: A1, A2, A3).
- - Tốc độ của xe mô tô BKS: 18B1-51366 tại thời điểm 14h39'31” trong mẫu cần giám định (ký hiệu: A1) là 48,96 Km/h (± 3,06 Km/h).
- - Tốc độ của xe mô tô BKS: 18B1-51366 tại thời điểm 14h39’28” trong mẫu cần giám định (ký hiệu: A2) là 51,01 Km/h (± 2,04 Km/h).
- - Tốc độ của xe mô tô BKS: 18B1-51366 tại thời điểm 14h39'33” trong mẫu cần giám định (ký hiệu: A3) là 51,01 Km/h (± 2,04 Km/h).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Trần Văn G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Về bồi thường dân sự: Trần Văn G đã tác động để gia đình bồi thường cho gia đình ông Đinh Văn C 60.000.000 đồng. Đại diện gia đình ông C là anh Đinh Văn T, sinh năm 1972, trú tại 2 L, phường V, thành phố N (con trai ông C) đã nhận đủ số tiền, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Văn G.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18B1-513.66 cho Trần Văn G.
Bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-TPNĐ ngày 23-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Văn G tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn G 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13-02-2025. Bị cáo có thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19-10-2024 đến ngày 01-11-2024. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn G.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Đinh Văn T trình bày: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo và gia đình đã đến thăm hỏi và khắc phục, bồi thường thiệt hại do bị cáo gây ra, phần dân sự anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nữa. Về hình phạt anh đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Trần Văn G xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn G, những người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn G tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường ngày 19-10-2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19-10-2024; Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 19-10-2024; Bản kết giám định pháp y tử thi số 1771/KLGĐTT-KTHS ngày 23-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh N cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 19-10-2024, Trần Văn G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18B1-513.66, dung tích xi-lanh 124,8cm3 nhưng không có giấy phép lái xe mô tô 2 bánh từ hạng A1 trở lên theo hướng từ đường T đến đường H, khi đi đến đoạn đường trước ngõ A đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn khi vượt phương tiện đi phía trước cùng chiều, không nhường đường cho người đi bộ sang đường nên đã xô vào ông Đinh Văn C đang đi bộ sang đường, hậu quả làm ông C bị chết do chấn thương vỡ hộp sọ, chảy máu nội sọ. Hành vi của Trần Văn G đã vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 4 Điều 11; khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 28/9/2019 của Bộ G1 (nay là khoản 1, khoản 28 Điều 9, điểm a khoản 3 Điều 12, khoản 3 Điều 14 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024).
Hành vi của bị cáo Trần Văn G là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu rõ các quy định của Luật Giao thông đường bộ nhưng khi tham gia giao thông đã không chấp hành đúng quy định, không có giấy phép lái xe theo quy định và gây ra tai nạn có hậu quả làm một người chết. Vì vậy bị cáo Trần Văn G đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Văn G đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; ngay khi xảy ra tai nạn bị cáo đã đưa nạn nhân đi cấp cứu; bị cáo đã cùng gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, những người đại diện của bị hại đã nhận đủ số tiền bị cáo và gia đình đã bồi thường, không ai có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền bồi thường nào khác, đồng thời người đại diện của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo Trần Văn G được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn G không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn G là nghiêm trọng, gây ra hậu quả làm chết một người nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên do bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ chỉ phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố.
Xét thấy bị cáo Trần Văn G có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên Hội đồng xét xử thấy rằng có thể cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định của Điều 65 Bộ luật Hình sự, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo quy định của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Văn G gây hậu quả không thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác của vụ án:
Bị cáo Trần Văn G và gia đình đã bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của bị hại ông Đinh Văn C số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Những người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH125i màu sơn trắng đen, BKS 18B1-51.366 là tài sản của bị cáo Trần Văn G, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí:
Bị cáo Trần Văn G bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn G 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 13-02-2025. Bị cáo có thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19-10-2024 đến ngày 01-11-2024.
Giao bị cáo Trần Văn G cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Văn G cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Văn G phải chấp hành hình phạt 03 (Ba) năm tù đã cho hưởng án treo.
2. Án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Văn G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Văn G và những người đại diện hợp pháp của bị hại ông Đinh Văn C có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trường |
9
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
