|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS- PT Ngày: 11- 02- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh.
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2024; ngày 13 tháng 01 và 11 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 296/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Minh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS- ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Minh T (T), sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: Số A, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Tấn Đ và con bà Huỳnh Diễm P; bị cáo có vợ và có 03 con;
- - Tiền sự: Không;
- - Tiền án: Có 02 tiền án.
- + Ngày 26/12/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 05 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo các điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 14/02/2013, đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích.
- + Ngày 26/6/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội “Dâm ô đối với trẻ em” theo quy định tại khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt ngày 06/10/2014, đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm, chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự nên chưa được xem là xóa án tích;
- - Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
Hà Văn L, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lê Thanh P1, sinh năm 1971 (có mặt).
- Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975 (vắng mặt).
- Hà Thị Kim N, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số D, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng:
- Lê Phú H, sinh năm 1994 (có mặt).
- Trần Thị D, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- Lê Văn Hồ S, sinh năm 1987 (có mặt).
- Hà Văn T2, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Số H, ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2018, bà Nguyễn Thị T1 có vay của Huỳnh Minh T 5.000.000 đồng, T nhiều lần đòi tiền nhưng bà T1 không trả.
Đến khoảng 18 giờ, ngày 27/01/2019, sau khi sử dụng rượu, T rủ Lê Phú H đến nhà bà T1 tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp để đòi nợ, Hòa đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở H đến nhà bà T1 nhưng không gặp. Bực tức việc bà T1 cố tình lẩn tránh không trả nợ, T lấy 02 bộ quần áo nam, 02 bộ quần nữ và 21 cây móc bằng kim loại của bà T1 đang treo trên giá phơi đồ đốt cháy tại sân nhà bà T1.
Sau đó, T và H điều khiển xe mô tô định ra về thì thấy ông Hà Văn L (chồng của bà T1) và ông Lê Thanh P1 về đến nhà. Thấy quần áo bị đốt cháy, ông L và T phát sinh cự cãi. T dùng tay và chân đánh ông Lê N1 vào cửa kính nhà làm vỡ kính. Thấy vậy, H chạy vào can ngăn thì bị ông P1 dùng chân đá trúng vào người H làm rơi điện thoại hiệu Nokia 230 màu đen của ông P1 xuống nền xi măng. H rượt ông P1 chạy ra sau vườn, còn T và ông Lê tiếp T3 giằng co (vị trí T và ông Lê giằng C cách vị trí đống lửa đang cháy khoảng 1,5 mét). T dùng tay xô ông Lê N1 vào đống lửa đang cháy làm cho ông Lê B bỏng da ở vùng mông, hông, lưng và tay trái. Thấy điện thoại của ông P1 rơi trên nền xi măng, T dùng tay nhặt điện thoại ném vào đống lửa đang cháy làm điện thoại bị hư hỏng. Sau đó T và H đi về nhà. Riêng ông L bị thương tích được đưa đến Trung tâm y tế huyện L điều trị, đến ngày 01/02/2019 thì xuất viện.
Ngày 12/02/2019, ông Hà Văn L có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Huỳnh Minh T.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 49/TgT ngày 21/02/2019, của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hà Văn L như sau:
- - Đa sẹo vết thương phần mềm và sẹo bỏng nám da, số lượng sẹo nhiều kích thước lớn. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 20 ngày 12/6/2014, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Văn L do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 12%. Theo nguyên tắc cộng lùi tại Thông tư (khi có từ hai tỷ lệ tổn thương trở lên).
Kết luận khác:
- - Tổn thương không ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
- - Tổn thương trên do bỏng lửa gây ra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 27/KL-ĐGTS ngày 13/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện L kết luận:
- - 01 điện thoại Nokia 230 màu đen là 1.140.000 đồng;
- - 02 bộ quần áo nam 208.000 đồng;
- - 02 bộ quần áo nữ 84.000 đồng;
- - 01 tấm kính 468.000 đồng;
- - 21 cây móc phơi đồ là 16.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 1.916.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Huỳnh Minh T tự nguyện bồi thường thiệt hại do sức khỏe của ông Hà Văn L bị xâm hại số tiền 5.000.000 đồng, ông L đã nhận xong và có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với T.
Chị Hà Thị Kim N (con gái ông L) là người trực tiếp chăm sóc ông Lê T4 thời gian điều trị vết thương không yêu cầu T bồi thường tiền thu nhập thực tế bị mất.
Huỳnh Minh T hủy hoại tài sản của ông Lê Thanh P1, ông Hà Văn L và bà Nguyễn Thị T1, quá trình điều tra, T đã bồi thường 1.000.000 đồng cho ông P1, hiện ông P1 đã nhận xong và không yêu cầu gì thêm. Ông L và bà T1 không yêu cầu T bồi thường tài sản bị thiệt hại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử và quyết định:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T mức án 02 năm tù (Hai năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nêu quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/8/2024, bị cáo Huỳnh Minh T có đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp để điều tra, xét xử lại vì Cơ quan điều tra Công an huyện L chưa cho đối chất giữa bị cáo với bị hại và những người làm chứng để làm sáng tỏ vụ an, bị cáo không xô bị hại Hà Văn Lê té ngã vào đống lửa.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Minh T không thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo cho rằng có đánh nhau với bị hại nhưng bị cáo không xô bị hại vào đống lửa, vì sao bị hại rơi vào đống lửa thì bị cáo không biết, bị cáo thừa nhận có đốt quần áo của bị hại, không thừa nhận đã có bồi thường thiệt hại cho bị hại như bản án sơ thẩm nhận định. Bị cáo cho rằng không phạm tội, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng có mặt tại phiên toà phúc thẩm đều thừa nhận các lời khai đã cung cấp trong quá trình điều tra.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm phân tích các tình tiết của vụ án, phân tích lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đánh giá kết quả xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm để khẳng định việc Tòa án nhân dân huyện Lai Vung kết án bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì bị cáo cho rằng không phạm tội là không có căn cứ chấp nhận. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Trong phần tranh luận, bị cáo Huỳnh Minh T cho rằng không phạm tội vì không xô bị hại Hà Văn L vào đóng lửa, bị cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản sơ thẩm để điều tra, xét xử lai. Bị cáo có con còn nhỏ, hoàn cảnh khó khăn, yêu cầu chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội, nếu bị cáo ở tù thì vợ con của bị cáo sẽ khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Bị hại Hà Văn L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T1, Hà Thị Kim N; người làm chứng Trần Thị D, Hà Văn T2 đã được Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tham gia phiên toà phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Minh T không thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo cho rằng bị cáo không có hành vi dùng tay xô bị hại Hà Văn Lê T5 ngã vào đóng lửa đang cháy làm cho bị hại L bị bỏng da ở vùng mông, hông, lưng và tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của chính bị cáo tại Biên bản lấy lời khai ngày 23/01/2024 (Bút lục 123), Bản tự khai ngày 27/01/2024 (Bút lục 117), Biên bản hỏi cung bị can ngày 27/01/2023 (Bút lục 118); lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; kết luận giám định; vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 18 giờ ngày 27/01/2019, tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Huỳnh Minh T có hành vi đánh nhau bằng tay, chân đối với bị hại Hà Văn L và trong lúc đánh nhau T có xô bị hại Hà Văn Lê N1 vào đống lửa đang cháy gây thương tích cho bị hại Lê với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Thương tích của bị hại là do bị cáo gây ra, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nên hành vi của bị cáo Huỳnh Minh T đủ cơ sở cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, xét xử không đủ cơ sở để xác định Lê Phú Hòa đồng P2 với bị cáo Huỳnh Minh T; không đủ cơ sở để xác định T phạm tội “Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử và kết án bị cáo Huỳnh Minh T theo tội danh, điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Quá trình điều tra, xét xử có đủ chứng cứ để kết tội bị cáo, không cần thiết phải huỷ bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại, nên kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
[3] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm có căn cứ chấp nhận.
[4] Do kháng cáo của bị cáo Huỳnh Minh T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
- Về án phí:
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Không chấp nhận kháng cáo kêu oan, huỷ Bản án sơ thẩm của bị cáo Huỳnh Minh T.
Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS- ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 02 năm tù (Hai năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 21/2025/HS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 21/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Minh T
