Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


Bản án số: 21/2025/DSST

Ngày 10 tháng 02 năm 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long
  2. Ông Trần Đức Lưu

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình:

Bà Bùi Mai Phương– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 258/2024/TLST - DS về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 485/2024/QÐST - DS ngày 29 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 269/2024/QÐST-HPT ngày 20 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HPT ngày 10 tháng 01 năm 2025, giữa:

* Nguyên đơn:

1. Công ty Cổ phần M1. Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, Phường Y, Quận C, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T – chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Huy M và ông Võ Ngọc D theo Văn bản ủy quyền số 10/2024/UQ-TGĐ ngày 05/12/2024. Ông Phan Huy M ủy quyền lại cho ông Đoàn Xuân T1 theo Văn bản ủy quyền số 0901/2025/UQ-XLN-JUPITER ngày 16/01/2025. Ông T1 có mặt tại phiên tòa.

2. Ngân hàng TMCP V. Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D1 - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP V. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L - Chức danh: Giám đốc Trung tâm T4 nợ Pháp lý, theo Văn bản ủy quyền số 38a/2024a/UQN-CTQT ngày 01/6/2024 của ông Ngô Chí D1. Ông Đỗ Hoàng L ủy quyền lại cho ông Hoàng Xuân S, ông Nguyễn Tiến A, ông Nông Quốc C và ông Bùi Quang A1 theo Văn bản ủy quyền số 1710/2024/UQ-VPB ngày 01/10/2024. Ông C có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y. Địa chỉ: Số D ngách A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Ông K, bà Y vắng mặt lần thứ ba liên tiếp không có lý do tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đăng T2, sinh năm 1982. HKTT: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Ông T2 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn–Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V thống nhất trình bày:

Ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y và Ngân hàng TMCP V1 có ký kết các Hợp đồng cho vay, cụ thể như sau:

- Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Số tiền vay: 5.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ đồng). Thời hạn vay: 300 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay. Mục đích sử dụng vốn vay: Vay hoàn vốn mua nhà tại thửa đất 03, tờ bản đồ số: QHPL, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 888419 do Sở T5 cấp ngày 28/11/2022. Phương thức cho vay: Cho vay từng lần.

- Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Số tiền vay: 1.957.263.155 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, chín trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, một trăm năm mươi lăm đồng). Thời hạn vay: 120 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay. Mục đích sử dụng vốn vay: Vay tiêu dùng mua sắm trang thiết bị gia đình. Lãi suất cho vay (trong hạn): 12%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hằng năm. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức: Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V2.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 2.5 %/năm.

Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản nợ gốc của bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết nợ gốc quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.

- Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Số tiền vay: 3.600.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ sáu trăm triệu đồng). Thời hạn vay: 300 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay. Mục đích sử dụng vốn vay: Vay hoàn vốn mua bất động sản tại thửa đất 03, tờ bản đồ số: QHPL, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Phương thức cho vay: Cho vay từng lần. Cụ thể:

Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023; Số tiền vay: 700.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm triệu đồng). Thời hạn vay: 120 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay. Mục đích sử dụng vốn vay: Vay tiêu dùng thanh toán tiền mua sắm nội thất. Lãi suất cho vay (trong hạn): 12%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hằng năm. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức: Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V2.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 2.5 %/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản nợ gốc của bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết nợ gốc quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.

- Tài sản bảo đảm cho các khoản vay là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL, địa chỉ Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DH 888419, số vào sổ cấp GCN: CS62393 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T5 cấp ngày 28/11/2022. Chi tiết hợp đồng thế chấp số công chứng: 5385/2022, quyển số 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 31/8/2023, số công chứng 3779/2023, quyển số 03-2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/8/2023 tại Văn phòng C2 giữa ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y với Ngân hàng TMCP V. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản đảm bảo cho khoản vay

Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/3/2024 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Mặc dù V2 đã nhiều lần tạo điều kiện để khách hàng thực hiện đúng hợp đồng nhưng tới thời điểm hiện tại khách hàng vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng.

Ngày 06 tháng 01 năm 2025 Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội nhận được công văn số 1201/2025/CV-JUPITER. VBP của Công ty Cổ phần M1 thông báo cho Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội biết Ngân hàng TMCP V đã bán một phần khoản nợ của Ngân hàng TMCP V cho Công ty Cổ phần M1 theo hợp đồng mua bán số 14/2024/VPB- JUPITER và phụ lục đính kèm ngày 27/12/2024. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán nợ này, Ngân hàng TMCP V đã chuyển một phần quyền chủ nợ của khoản nợ trên cho Công ty Cổ phần M1.

Nay, nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giải quyết các yêu cầu sau:

- Buộc ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V và toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 12.486.995.164 đồng, trong đó: nợ gốc là 10.955.940.796 đồng; nợ lãi trong hạn: 89.662.511 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.379.158.338 đồng; lãi chậm trả lãi: 62.233.519 đồng theo Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023, cụ thể như sau:

- Thanh toán cho Công ty Cổ phần M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 11.238.295.647 đồng, trong đó: nợ gốc là 9.860.346.716 đồng; nợ lãi là 1.377.948.931 đồng;

- Thanh toán cho Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 1.248.699.517 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.095.594.080 đồng; nợ lãi là 153.105.437 đồng.

- Buộc ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y phải tiếp tục trả nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận lãi phát sinh kể từ ngày 11/02/2025 đến khi thanh toán xong khoản nợ cho V2 và Công ty Cổ phần M1.

Trường hợp ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho V2 và Công ty Cổ phần M1 thì V2 và Công ty Cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho V2 và Công ty Cổ phần M1, cụ thể như sau:

Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL, địa chỉ Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DH 888419, số vào sổ cấp GCN: CS62393 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T5 cấp ngày 28/11/2022. Chi tiết hợp đồng thế chấp số công chứng: 5385/2022, quyển số 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 31/8/2023, số công chứng 3779/2023, quyển số 03-2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/8/2023 tại Văn phòng C2 giữa ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y với Ngân hàng TMCP V. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm nói trên vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V2 và Công ty Cổ phần M1 thì ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y vẫn tiếp tục phải trả nợ cho V2 và Công ty Cổ phần M1 cho đến khi tất toán khoản vay.

Về án phí dân sự: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đăng T2 trình bày:

Ông xác nhận ông và ông Nguyễn Công K có ký hợp đồng diện tích đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL, địa chỉ Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội khoảng đầu năm 2024, có ký hợp đồng thuê 01 năm, sau đó hai bên tự thỏa thuận gia hạn thời gian thuê bằng miệng đến tháng 5/2025, tiền thuê nhà 5.000.000 đồng/tháng, trả tiền 6 tháng/01 lần. Ông đã trả tiền thuê đến tháng 5/2025.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, ông có ý kiến như sau: Ông đề nghị ngân hàng tạo điều kiện cho ông được tiếp tục thuê đối với diện tích đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL, địa chỉ Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DH 888419, số vào sổ cấp GCN: CS6239 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T5 cấp ngày 28/11/2022 đứng tên ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y.

Đối với số tiền thuê diện tích đất nêu trên ông đã thanh toán cho ông K, ông không có yêu cầu trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp xảy ra ông sẽ khởi kiện ông K bằng một vụ án khác.

Ông đã được Tòa án giải thích về yêu cầu độc lập, ông đã hiểu và không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

Do hiện nay ông bận công việc không có thời gian để đến Tòa án làm việc. Vì vậy, ông xin vắng mặt trong các buổi làm việc tại Tòa án, phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như trong các giai đoạn tố tụng khác tại Tòa án.

Ngoài ra, ông không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.

Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được, Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:

  • - Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán quy định tại Điều 48 BLTTDS, cụ thể:
    • - Về thẩm quyền: Theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ: Ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y có đăng ký thường trú: Số D ngách A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Như vậy, việc Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.
    • - Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách các đương sự: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 68 BLTTDS:
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương 14 của BLTTDS sửa đổi về phiên tòa sơ thẩm :
    • + Chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định của BLTTDS.
    • + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 BLTTDS.
    • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án:
    • - Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 BLTTDS.
  • Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 BLTTDS.
  • Bị đơn đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 73 BLTTDS.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
  • Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V2;

    - Buộc ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 12.486.995.164 đồng, trong đó: nợ gốc là 10.955.940.796 đồng; nợ lãi trong hạn: 89.662.511 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.379.158.338 đồng; lãi chậm trả lãi: 62.233.519 đồng theo Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023, cụ thể như sau:

    - Thanh toán cho Công ty Cổ phần M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 11.238.295.647 đồng, trong đó: nợ gốc là 9.860.346.716 đồng; nợ lãi là 1.377.948.931 đồng;

    - Thanh toán cho Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 1.248.699.517 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.095.594.080 đồng; nợ lãi là 153.105.437 đồng.

    Hợp đồng thế chấp số công chứng: 5385/2022, quyển số 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 31/8/2023, số công chứng 3779/2023, quyển số 03-2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/8/2023 tại Văn phòng C2 là hợp pháp. Chấp nhận yêu cầu của V2 và Công ty Cổ phần M1 trong trường hợp ông K, bà Y không thanh toán được khoản nợ trên thì V2 và Công ty Cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

    Án phí sơ thẩm:

    • - Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Bị đơn: Ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.

    Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tố tụng:

Đây là vụ án yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023, mục đích vay: Vay hoàn vốn mua nhà tại thửa đất 03, tờ bản đồ số: QHPL, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội và Vay tiêu dùng thanh toán tiền mua sắm nội thất. Do vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y có đăng ký thường trú tại số D ngách A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Khi đến hạn trả nợ ông K, bà Y không thanh toán được khoản nợ cho V2 nên V2 đã khởi kiện ông K, bà Y đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình, đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông K, bà Y phải thanh toán trả V2 toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 425 Bộ luật dân sự 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.

Bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú, nhưng không thông báo cho nguyên đơn được biết. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của tòa án tại địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú của bị đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã đăng trên phương tiện thông tin đại chúng và cổng thông tin của Tòa án để thông báo cho ông K, bà Y đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình để làm việc liên quan đến vụ án. Căn cứ khoản 3 Điều 5, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ - HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do và cũng không ủy quyền cho ai tham gia giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa. Vì vậy Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ ba không có lý do và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét.

Ngày 07 tháng 01 năm 2025 Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội nhận được công văn số 1201/2025/CV-JUPITER. VBP của Công ty Cổ phần M1 thông báo cho Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội biết Ngân hàng TMCP V đã bán một phần khoản nợ của Ngân hàng TMCP V cho Công ty Cổ phần M1 theo hợp đồng mua bán số 14/2024/VPB- JUPITER và phụ lục đính kèm ngày 27/12/2024. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán nợ này, Ngân hàng TMCP V đã chuyển một phần quyền chủ nợ của khoản nợ trên cho Công ty Cổ phần M1. Vì vậy, xác định Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V là đồng nguyên đơn trong vụ án này.

[2]. Về nội dung:

Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023; Hợp đồng thế chấp số công chứng: 5385/2022, quyển số 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 31/8/2023, số công chứng 3779/2023, quyển số 03-2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/8/2023 ký giữa ông K, bà Y và V2. Ngân hàng V2 đã giải ngân cho ông K, bà Y tổng số tiền là: 11.257.263.155 đồng thông qua các khế ước nhận nợ.

Hội đồng xét xử nhận thấy, Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay ông K, bà Y đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 15/3/2024 nên ngân hàng đã chuyển khoản nợ của ông K, bà Y thành nợ quá hạn khoản 8 Điều 1 của các Hợp đồng cho vay quy định về Chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn:

“Các Bên thống nhất rằng Bên Ngân hàng có quyền (nhưng không có nghĩa vụ) chấm dứt cho vay, dừng giải ngân và thu hồi toàn bộ dư nợ vay còn lại của B vay trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, phí, chi phí và bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào khác đối với Bên Ngân hàng (bao gồm nghĩa vụ trả nợ theo bất kỳ K1 trả nợ gốc, K1 trả nợ lãi nào) theo thỏa thuận giữa Bên Ngân hàng và Bên vay tại H, Điều Kiện Giao Dịch C1 và các văn bản thỏa thuận liên quan

b) Các trường hợp khác theo quy định tại điều kiện giao dịch chung”.

Nay V2 và Công ty Cổ phần M1 khởi kiện buộc ông K, bà Y phải thanh toán cho V2 và Công ty Cổ phần M1 tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 12.486.995.164 đồng, trong đó: nợ gốc là 10.955.940.796 đồng; nợ lãi trong hạn: 89.662.511 đồng; nợ lãi quá hạn: 1.379.158.338 đồng; lãi chậm trả lãi: 62.233.519 đồng theo Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023, cụ thể như sau:

- Thanh toán cho Công ty Cổ phần M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 11.238.295.647 đồng, trong đó: nợ gốc là 9.860.346.716 đồng; nợ lãi là 1.377.948.931 đồng;

- Thanh toán cho Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 1.248.699.517 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.095.594.080 đồng; nợ lãi là 153.105.437 đồng.

Xét thấy việc thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá hạn và cách tính lãi trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp là đúng pháp luật và phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, phù hợp với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được chấp nhận. Do đó, việc V2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K, bà Y phải thanh toán trả V2 và Công ty Cổ phần M1 số tiền nợ trên là có căn cứ chấp nhận.

[3]. Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của V2 và Công ty Cổ phần M1:

Hội đồng xét xử thấy: Tại Hợp đồng thế chấp số công chứng: 5385/2022, quyển số 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 31/8/2023, số công chứng 3779/2023, quyển số 03-2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/8/2023 ký giữa ông K, bà Y và V2. Ông K, bà Y đã đồng ý thế chấp tài sản của mình là: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL, địa chỉ Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DH 888419, số vào sổ cấp GCN: CS62393 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T5 cấp ngày 28/11/2022 thế chấp cho Ngân hàng TMCP V bảo đảm cho khoản vay của ông K, bà Y cụ thể:

Căn cứ Điều 3 của Hợp đồng thế chấp quy định:

“1. Tài sản thế chấp nêu tại Điều 2 Hợp đồng này bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và trong tương lai, bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của Bên được bảo đảm đối với Bên Ngân hàng phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng (bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, khế ước nhận nợ, đề nghị phát hành bảo lãnh, đề nghị phát hành L1, đề nghị chiết khấu và các văn bản liên quan (nếu có) được xác lập bởi bên được bảo đảm và/hoặc được ký kết giữa bên được bảo đảm với bên ngân hàng và bên liên quan khác (nếu có) trước, trong và sau ngày ký kết hợp đồng này.

2. Các Bên đồng ý rằng, Bên được bảo đảm có thể vay vốn, mở L1, nhận bảo lãnh, chiết khấu và/hoặc nhận các hình thức cấp tín dụng khác từ Bên Ngân hàng và/hoặc thiết lập các giao dịch có xác lập nghĩa vụ nợ khác với Bên Ngân hàng làm nhiều lần, theo một hoặc nhiều Hợp đồng, Văn kiện tín dụng khác nhau và Tài sản thế chấp nêu tại Điều I của Hợp đồng này bảo đảm cho tất cả các nghĩa vụ của Bên thế chấp phát sinh từ tất cả các Hợp đồng, Văn kiện tín dụng đó”.

Như vậy, nội dung của Hợp đồng thế chấp tài sản nói trên được các bên ký kết tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội và được công chứng viên công chứng. Việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật và đã được ông K, bà Y đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp ngày 30/11/2022 và Văn phòng Đ xác nhận ngày 30/11/2022. Việc ông K, bà Y ký hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và các bên tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, việc ông K, bà Y dùng tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay của ông bà theo Điều 2 của Hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy, có đủ căn cứ để xác nhận hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lí.

Vì vậy, yêu cầu của V2 và Công ty Cổ phần M1 đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông K, bà Y không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì V2 và Công ty Cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5]. Về án phí sơ thẩm:

V2 và Công ty Cổ phần M1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

  • - Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;
  • - Vì các căn cứ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ các Điều 463; Điều 466; Điều 468 Điều 470; Điều 295; Điều 298; Điều 319; Điều 321; Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 127 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ khoản 14, 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”. Căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V và Công ty Cổ phần M1.

- Buộc ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 12.486.995.164 (Mười hai tỷ, bốn trăm tám mươi sáu triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, một trăm sáu mươi tư) đồng, trong đó: nợ gốc là 10.955.940.796 (Mười tỷ, chín trăm năm mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi nghìn, bảy trăm chín mươi sáu) đồng; nợ lãi trong hạn: 89.662.511 (Tám mươi chín triệu, sáu trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm mười một) đồng; nợ lãi quá hạn: 1.379.158.338 (Một tỷ, ba trăm bảy mươi chín triệu, một trăm năm mươi tám nghìn, ba trăm ba mươi tám) đồng; lãi chậm trả lãi: 62.233.519 (Sáu mươi hai triệu, hai trăm ba mươi ba nghìn, năm trăm mười chín) đồng theo Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023, cụ thể như sau:

- Buộc ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 11.238.295.647 (Mười một tỷ, hai trăm ba mươi tám triệu, hai trăm chín mươi lăm nghìn, sáu trăm bốn mươi bảy) đồng, trong đó: nợ gốc là 9.860.346.716 (Chín tỷ, tám trăm sáu mươi triệu, ba trăm bốn mươi sáu nghìn, bảy trăm mười sáu) đồng; nợ lãi là 1.377.948.931 (Một tỷ, ba trăm bảy mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm ba mươi mốt) đồng;

- Buộc ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP V toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi và lãi phạt tạm tính đến ngày 10/02/2025 là 1.248.699.517 (Một tỷ, hai trăm bốn mươi tám triệu, sáu trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm mười bảy) đồng, trong đó: nợ gốc là 1.095.594.080 (Một tỷ, không trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm chín mươi tư nghìn, không trăm tám mươi) đồng; nợ lãi là 153.105.437 (Một trăm năm mươi ba triệu, một trăm linh lăm nghìn, bốn trăm ba mươi bảy) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2211057338073 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2308039899679 ngày 29/9/2023; Hợp đồng cho vay số LN2211077349051 ngày 01/12/2022; Hợp đồng cho vay số LN2307269829226 ngày 29/9/2023.

Trường hợp hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và tiền lãi nói trên cho Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V thì Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là:

Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL, địa chỉ Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DH 888419, số vào sổ cấp GCN: CS62393 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T5 cấp ngày 28/11/2022. Chi tiết hợp đồng thế chấp số công chứng: 5385/2022, quyển số 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 31/8/2023, số công chứng 3779/2023, quyển số 03-2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/8/2023 tại Văn phòng C2 giữa ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y với Ngân hàng TMCP V. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu có dư nợ Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục phải trả cho ngân hàng số tiền còn thiếu.

2. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này giữa các bên có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Công K và bà Mai Bích Y phải chịu 120.486.995 (Một trăm hai mươi triệu, bốn trăm tám mươi sáu nghìn, chín trăm chín mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm (chưa nộp).

- Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0030658 ngày 11 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/DSST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 21/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger