Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày 07-02-2025

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Phước và bà Dương Triết Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 332/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Văn L, sinh năm 1998;

Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Chị Phan Thị Kim N, sinh năm 2000;

Địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.

(Anh L có mặt, chị N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; nguyên đơn anh Phạm Văn L trình bày:

Anh và chị Phan Thị Kim N được mai mối và cưới nhau vào cuối năm 2023 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang. Sau khi cưới, anh chị chung sống được 02 tháng đến tháng 02/2024 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống với nhau, làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ tháng 02/2024 chị N tự ý gom vàng cưới và đồ cá nhân bỏ về nhà cha mẹ ruột sống nên anh và chị N cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh yêu cầu ly hôn với chị N.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Anh L yêu cầu chia đôi tài sản chung là số vàng cưới gồm 9,1 chỉ vàng loại 18kra và 10 chỉ vàng loại 24kra, anh yêu cầu nhận hiện vật.

Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh Phạm Văn L có mặt, anh yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia tài sản chung để anh và chị N tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án đặt ra xem xét.

* Đối với bị đơn chị Phan Thị Kim N:

Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn đã tống đạt các văn bản tố tụng, đồng thời triệu tập chị N tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ, nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.

Tại phiên tòa: Bị đơn chị Phan Thị Kim N vắng mặt không có lý do.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:

- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn L, cho anh L ly hôn với chị Phan Thị Kim N, về con chung, nợ chung là không có nên không đặt ra xem xét, đề nghị đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh L về việc chia tài sản chung; buộc anh L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn có địa chỉ tại huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh L và chị N là hôn nhân hợp pháp, anh chị chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04-12-2023. Trong quá trình chung sống, hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2024 cho đến nay. Nay anh L yêu cầu ly hôn với chị N. Xét thấy, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa anh L, chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L, cho anh L được ly hôn với chị N là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.2] Về con chung: Không có.

[3.3] Về tài sản chung: Tại phiên tòa, anh L yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của anh L là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút là phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự .

[3.4] Về nợ chung: Anh L xác định, anh và chị N không có nợ chung.

[4] Về án phí: Anh L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều: 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn L được ly hôn với chị Phan Thị Kim N.
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của anh Phạm Văn L về việc yêu cầu chị Phan Thị Kim N chia đôi tài sản chung là số vàng cưới gồm 9,1 chỉ vàng loại 18kra và 10 chỉ vàng loại 24kra.
  3. Về án phí: Anh Phạm Văn L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 2.056.000 đồng (Hai triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011527 ngày 07-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; hoàn lại cho anh Phạm Văn L số tiền còn lại là 1.756.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Anh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn;
  • - Lưu HS, AV.

Dương Thị Bé Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh L yêu cầu ly hôn chị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger