Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Tấn Dũng.
  2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2024/QĐXX-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết O, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986; Nơi cư trú: Ấp N, xã TT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1986; Nơi cư trú: Ấp A, xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 10 năm 2024, biên bản lấy lời khai ngày 31 tháng 12 năm 2024 và bản khai ngày 31 tháng 12 năm 2024, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết O trình bày: Chị và anh Phạm Văn T cưới nhau vào năm 2019 (không nhớ ngày tháng), có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp. Trước khi tiến hôn nhân thì chị và anh T không có tìm hiểu, mà do mai mối. Sau khi cưới thì cả hai đi Bình Dương làm. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu vui vẻ hạnh phúc, đến năm 2021 thì anh T thường xuyên ghen tuông, hăm doạ, chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh T vẫn chứng nào tật nấy. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2019, không yêu cầu anh Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phạm Văn T đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết O được ly hôn với anh Phạm Văn T; về nuôi con chung: Giao con chung Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2019 cho chị Nguyễn Thị Tuyết O tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị O không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết O trình bày không có, còn anh Phạm Văn T không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phạm Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa Nguyễn Thị Tuyết O và anh Phạm Văn T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết O đối với anh Phạm Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Nguyễn Thị Tuyết O thì cuộc sống của chị và anh T không còn hạnh phúc từ năm 2021 do hai vợ chồng có mâu thuẫn về chuyện tình cảm, anh T thường xuyên ghen tuông, hăm doạ, chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh T vẫn không thay đổi. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị O và anh T hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị O là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Tuyết O ly hôn với anh Phạm Văn T.

[4] Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết O yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2019, không yêu cầu anh Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi cháu H sinh ra và cho đến hiện nay đều do chị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cho nên để ổn định việc sinh hoạt của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị O được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị O không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết O cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Phạm Văn T không có văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết O, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tuyết O và anh Phạm Văn T.
  2. Về việc nuôi con chung:
    1. Chị Nguyễn Thị Tuyết O được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2019.
    2. Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
    3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tuyết O chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014480 ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - UBND X.TT, H.TB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lương Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 21/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chi O yêu cầu ly hôn với anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger