Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HỒNG BÀNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 24-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Hương;

Bà Phạm Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Khiêm - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố H xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn Đ, sinh ngày 23 tháng 01 năm 2002 tại Sơn La. Nơi ĐKNKTT: Bản Lĩnh L, C, T, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện nay: Không nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn É và bà Lò Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 104/2020/HSST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành hình phạt tù xong ngày 25/11/2021 (đã xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 03/10/2024; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Đức T – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, tại khu vực chân cầu B, T, Hồ N, Hải Phòng, tổ công tác Công an phường T phát hiện Lò Văn Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14L1-037.05 có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi quần phía trước bên phải Đ đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” bên trong có 02 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng (nghi ma túy) nên đã đưa về trụ sở Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với Lò Văn Đ cho kết quả dương tính với ma túy Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số 1162/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,37 gam, loại: Heroine”.

Lò Văn Đ khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 01/10/2024, Đ một mình điều khiển xe mô tô nêu trên đến khu vực chân cầu B, T, Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Đ mua của một người đàn ông không quen biết (hiện chưa xác định được lai lịch) 400.000 đồng, được 02 gói giấy chứa Heroine đựng trong vỏ bao thuốc lá “Thăng Long”. Đ cất ma túy vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng đến khu vực chân cầu B thì bị bắt quả tang như nội dung trên.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định và 01 (một) vỏ bao thuốc lá “Thăng Long”, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng;
  • - Xe mô tô biển kiểm soát 14L1-037.05: quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu hợp pháp là anh Lò Văn H1 (sinh năm 1981, trú tại: bản L, T, T, Sơn La). Anh H1 cho Đ mượn xe để đi làm và không biết việc Đ sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh H1.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSHB, ngày 30/12/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lò Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lò Văn Đ từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có quan điểm tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát, phần lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 12 giờ ngày 01/10/2024, tại khu vực chân cầu B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, Lò Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 0,37 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

-Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Bị cáo có hành vi tàng trữ 0,37 gam ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân nên hành vi trên của bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật Phòng, chống ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội. Đây là tệ nạn xã hội gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân nên phải xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo thể hiện tại phần căn cước, lý lịch cho thấy bị cáo có nhân thân không tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[7] Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, cần xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mới có tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo có công việc, thu nhập không ổn định, không có căn cứ xác định bị cáo có tài sản riêng. Việc bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

[9] Về các nội dung khác: Đối với người bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra Công an quận H tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ; Đối với chiếc xe máy bị cáo sử dụng là phương tiện mua ma túy, xác định được là của anh Lò Văn H1, anh H1 cho bị cáo mượn xe để đi làm và không biết việc bị cáo sử dụng để đi mua ma túy, không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra Công an quận H đã trả lại cho anh H1 là có căn cứ.

[10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao thuốc lá cần tịch thu tiêu hủy do là chất cấm và liên quan đến hành vi phạm tội.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đề nghị miễn án phí nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Xử phạt: Lò Văn Đ: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 01/10/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
  • + Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 1162MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H;
  • - 01 vỏ bao thuốc lá “thăng long”.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 30/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).

  • - Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an TP Hải Phòng;
  • - CA quận Hồng Bàng;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng;
  • - VKSND quận Hồng Bàng;
  • - Chi cục THADS quận Hồng Bàng;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Đức - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger