|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HS-ST
Ngày: 24 - 01 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Quang Thái
- 2/ Ông Nguyễn Văn Hảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Đức Hậu – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phó Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2024/HSST ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Đặng Xuân C, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1994 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Đặng Thị T và bố chưa xác định được; có vợ là chị Hứa Huyền C1 (Có giấy chứng nhận khuyết tật nặng) và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/8/2024 cho đến nay, “có mặt”.
Bị hại: Anh Bàn Văn Q, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, “có mặt”.
Người làm chứng:
Anh Bàn Văn T1, “ vắng mặt”.
Chị Hứa Huyền C1, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Bàn Văn Q, anh Bàn Văn T1 và gia đình Đặng Xuân C cùng thuê nhà của ông Dương Văn H, sinh năm 1970 ở thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để ở. Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 25/6/2024, anh Q và anh T1 đi chơi về thấy cổng khóa nên anh Q gọi vợ chồng C ra mở cổng. Chị C1 vợ C tìm chìa khóa để mở cổng nhưng không thấy, nên anh Q lấy búa sắt trong cốp xe mô tô, rồi trèo tường rào vào trong sân dùng búa đập khóa để mở cổng. Lúc này C đi ra và nói: “Chúng mày đập cổng nhà tao để làm gì” thì anh Q nói: “Mày có tỉnh không”. Sau đó hai bên lời qua tiếng lại và xảy ra xô sát. Anh Q đẩy C ngã về phía sau, C đứng dậy cầm gạch ném anh Q nhưng không trúng nên C chạy vào trong sân giếng lấy 01 con dao phay bằng kim loại, dài 25 cm, bản rộng 7 cm, chuôi dao bằng gỗ; chạy đến phía sau anh Q, tay phải C cầm dao chém 01 nhát vào vùng vai phải của anh Q, anh Q bỏ chạy vào trong nhà; C đuổi theo thì bị vấp ngã, C vung dao chém tiếp 01 nhát trúng vào gót chân phải của anh Q. Anh Q bỏ chạy lên phía trên hè, cầm 01 chiếc điếu cày quay lại vụt 02 cái vào vùng vai của C. Sau đó, được mọi người can ngăn nên cả hai dừng lại. Anh Q được anh T1 đưa đến bệnh viện Đa khoa tỉnh V điều trị từ ngày 25/6/2024 đến ngày 03/7/2024 thì ra viện.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiến hành xác định hiện trường, giám định thương tích và tổ chức điều tra, xác minh theo Luật định.
Tại Kết luận giám định số: 310/KLTTCT-PYVP, ngày 13/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V đối với anh Bàn Văn Q, kết luận: Các kết quả chính: Đứt gân gót (A) chân phải đã khâu nối không ngắn chi xếp: 12%. Sẹo vết thương phần mềm tương ứng mỏm cùng vai phải kích thước trung bình xếp: 02%. Sẹo vết thương phần mềm mặt sau gót chân phải kích thước trung bình xếp: 02%. Mất liên tục bờ ngoài mỏm xương cùng vai phải cần xác minh, giám định bổ sung. Cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả ở trên có thể là do vật sắc gây nên. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bàn Văn Q tại thời điểm giám định là 15%.
Tại Kết luận giám định bổ sung số: 449/KLTTCT-PYVP, ngày 04/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V đối với anh Bàn Văn Q, kết luận: Các kết quả chính: Đứt gân gót (A) chân phải đã khâu nối không ngắn chi xếp: 12%. Sẹo vết thương phần mềm tương ứng mỏm cùng vai phải kích thước trung bình xếp: 02%. Sẹo vết thương phần mềm mặt sau gót chân phải kích thước trung bình xếp: 02%. Mẻ xương mỏm cùng vai phải xếp: 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bàn Văn Q tại thời điểm giám định là 17%.
Khi xảy ra xô sát, C bị anh Q cầm điếu cày vụt 02 cái vào vai nhưng C không bị thương tích gì, không phải điều trị tại cơ sở y tế nào và C từ chối giám định thương tích.
Về vật chứng của vụ án: Thu giữ: 01 dao phay có chiều dài 25 cm, bản rộng 07 cm; 01 điếu cày dạng ống hình tròn dài 70 cm.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Bàn Văn Q yêu cầu Đặng Xuân C phải bồi thường các khoản chi phí viện phí, tổn hại sức khỏe với tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Đặng Xuân C đồng ý, nhưng chưa bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKSND, ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đặng Xuân C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Đặng Xuân C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Xuân C từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 03 tháng tù.
Bị cáo Đặng Xuân C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Bị cáo Đặng Xuân C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố. Xét lời nhận tội bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/6/2024, tại nhà trọ của ông Dương Văn H ở thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, do mâu thuẫn về việc mở cổng nhà trọ nên Đặng Xuân C và anh Bàn Văn Q đã xảy ra xô sát. Đặng Xuân C đã dùng 01 dao phay bằng kim loại dài 25cm, bản rộng 07cm chém trúng vai phải và gót chân phải của anh Bàn Văn Q. Hậu quả anh Q bị đứt gân gót (Achiles) chân phải, bị thương phần mềm mỏm vai phải, bị thương phần mềm mặt sau gót chân phải, mẻ xương mỏm vai phải. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của Bàn Văn Q theo kết luận giám định là 17%.
Hành vi của Đặng Xuân C do mâu thuẫn cá nhân hết sức nhỏ nhặt, giản đơn đã dùng dao phay là hung khí nguy hiểm chém anh Bàn Văn Q trực tiếp gây ra thương tích 17% cho anh Bàn Văn Q đã đủ yếu tố để cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Đặng Xuân C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
... đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;”.
Điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự:
a) Dùng hung khí nguy hiểm ...;
i) Có tính chất côn đồ.
- Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, do vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, hậu quả xảy ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Đặng Xuân C có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nhưng không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và tỏ ra thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn: con bị cáo sinh năm 2023, vợ bị cáo bị khuyết tật nặng không có khả năng lao động để kiếm sống mà chỉ ở nhà chăm sóc con và làm công việc nội trợ, bị cáo là con duy nhất của mẹ đơn thân nên không có anh em ruột thịt để đỡ đần, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình. Do đó, bị cáo Đặng Xuân C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng vẫn cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra: anh Bàn Văn Q và Đặng Xuân C đã thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường là 20.000.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo C đồng ý với yêu cầu bồi thường của anh Q. Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận trên, buộc bị cáo Đặng Xuân C phải bồi thường cho anh Bàn Văn Q số tiền 20.000.000 đồng.
- Trong vụ án này còn có các hành vi như sau:
Đối với anh Bàn Văn Q có hành vi dùng điếu cày đánh Đặng Xuân C vào vai nhưng không gây thương tích gì, C cũng từ chối giám định thương tích và không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của Đặng Xuân C và anh Bàn Văn Q khi xảy ra xô sát, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm việc với chính quyền địa phương; lấy lời khai các hộ dân xung quanh, xác định không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên hành vi không cấu thành tội “gây rối trật tự công cộng”. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
- Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Do anh Q không có nhu cầu nhận lại tài sản hợp pháp của mình là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy 01 (một) dao phay, 01 (một) chiếc điếu cày có mô tả chi tiết như trong biên bản giao nhận vật chứng là có căn cứ.
- Về án phí: Bị cáo Đặng Xuân C phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự trong án Hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Xuân C 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 30/8/2024.
- Về trách nhiệm dân dự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 590, 357, 468 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại. Buộc bị cáo Đặng Xuân C phải bồi thường cho anh Bàn Văn Q 20.000.000 đồng.
Kể từ ngày anh Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không tự nguyện thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) dao phay; 01 (một) chiếc điếu cày. Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 30/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Đặng Xuân C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng chẵn) án phí dân sự trong án hình sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Phương Dung |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Xuân C
