Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC KẠN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HSST

Ngày 23/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vũ Đình Hưng;

2/ Ông Nông Văn Quân.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST - HS ngày 31/12/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 10/01/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/10/1975 tại tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Mạnh T1 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị T2; vợ tên Hà Thị N; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 24/7/2009 bị Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh B, đến ngày 05/8/2010 chấp hành xong và hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2024 đến ngày 22/9/2024, sau đó được tại ngoại cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T3; sinh năm 1981; trú tại: Tổ T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 20 phút, ngày 13/9/2024, tại khu vực tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế-Ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an phường Đ bắt quả tang đối với Nguyễn Mạnh T (sinh năm 1975, trú tại tổ T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Phát hiện và thu giữ bên trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Mạnh T 01 (một) gói được gói bằng 01 (một) lớp vỏ nilon màu trắng trên mặt có chữ và số in (loại vỏ đựng xi lanh nhựa), bên trong tiếp tục có 01 (một) gói được gói bằng giấy hai mặt đều màu trắng có chấm dòng kẻ màu xanh, bên trong có chứa chất dạng bột và cục màu trắng nghi là chất ma tuý loại Heroine (được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1). Ngoài ra, còn tạm giữ của Nguyễn Mạnh T 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97 F8 - 4480 cùng chìa khóa xe đã qua sử dụng. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và các công trình, phương tiện liên quan tại nhà của Nguyễn Mạnh T ở tổ T, phường H, thành phố B nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản gì liên quan đến việc phạm tội.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất dạng bột và cục màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 thu giữ của Nguyễn Mạnh T, xác định khối lượng là 0,24 gam (không phẩy hai bốn gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất dạng bột và cục màu trắng nói trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định; phong bì ký hiệu T1, vỏ nilon màu trắng trên mặt có chữ và số in (loại vỏ đựng xi lanh nhựa), giấy gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 309/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất dạng bột và cục màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,24g (không phẩy hai bốn gam). Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T195 hoàn trả lại Cơ quan điều tra.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh T khai nhận: Toàn bộ số chất dạng bột và cục M trắng bị thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại heroine của T tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma tuý, T khai nhận: Bản thân T là người nghiện ma túy, buổi sáng ngày 13/9/2024, T mượn 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu đỏ đen xám, biển kiểm soát 97F8 – 4480 của em gái ruột là chị Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1981, trú tại: Tổ T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) và bảo đi có việc nên chị T3 đồng ý và giao xe mô tô cùng chìa khoá xe cho T. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 13/9/2024, T điều khiển xe mô tô đi từ nhà ở tại tổ T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đến khu vực tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, T đến khu vực trên, tại đây T gặp một người đàn ông lạ mặt, đeo khẩu trang, không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể. Qua nói chuyện, T hỏi người này có ma tuý không thì người này nói là có và đồng ý bán ma tuý cho T. Sau đó, T đưa cho người đàn ông lạ mặt số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), người đàn ông lạ mặt nhận tiền và bán cho T 01 (một) gói được gói bằng 01 (một) lớp vỏ nilon màu trắng trên mặt có chữ và số in (loại vỏ đựng xi lanh nhựa), bên trong có ma túy, loại Heroine. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vừa mua được vào trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng trái phép chất ma túy. Trên đường đi tìm nơi sử dụng ma túy, T đến khu vực tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế-Ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an phường Đ tiến hành kiểm tra, phát hiện Nguyễn Mạnh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, sau đó tổ công tác đã đưa T về trụ sở Công an phường Đ, thành phố B và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Mạnh T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, đồng thời thu giữ, niêm phong 01 (một) gói có chứa chất ma túy có đặc điểm như trên, tạm giữ 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm sát 97F8 – 4480 cùng chìa khoá xe của Nguyễn Mạnh T.

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Mạnh T đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số 03/CT-VKSTPBK, ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

......

c) Heroine.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

......

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên tòa:

*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 13 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/9/2024 đến ngày 22/9/2024.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T 195; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

*Bị cáo Nguyễn Mạnh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, bị cáo không có ý kiến gì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt trong đó nêu rõ: Ngày 13/9/2024, Nguyễn Mạnh T là anh trai ruột của chị có hỏi mượn của chị chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu đỏ đen xám, BKS 97F8- 4480 để đi có việc. Chị hoàn toàn không biết việc bị cáo T sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện nay chị đã được Cơ quan CSĐT Công an thành phố B trả lại chiếc xe này do vậy chị không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:

Hồi 14 giờ 20 phút, ngày 13/9/2024, tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Nguyễn Mạnh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,24 (không phẩy hai bốn gam) gam ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Nguyễn Mạnh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật tuy nhiên do nghiện chất ma túy nên đã cố ý tàng trữ trái phép 0,24 (không phẩy hai bốn gam) gam ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Mạnh T có nhân thân xấu: Ngày 24/7/2009 bị Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh B, đến ngày 05/8/2010 chấp hành xong trở về địa phương sinh sống, đến ngày 13/9/2024 thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Mạnh T1 tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huy chương kháng chiến nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T195, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Nguyễn Mạnh T, SN 1975 tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, chứa chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Phong bì, giấy gói, vỏ nilon (Loại đựng xi lanh nhựa) cũ lưu hồ sơ vụ án”, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 02 (hai) chữ Thuỳ, 02 (hai) dòng chữ Nguyễn Mạnh T và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, bên trong chứa phong bì, giấy gói, vỏ nilon cũ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Nguyễn Mạnh T vào ngày 13/9/2024, tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/9/2024 đến ngày 22/9/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T195, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Nguyễn Mạnh T, SN 1975 tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Phong bì, giấy gói, vỏ nilon (Loại đựng xi lanh nhựa) cũ lưu hồ sơ vụ án”, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 02 (hai) chữ Thuỳ, 02 (hai) dòng chữ Nguyễn Mạnh T và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TPBK;
  • - Công an TPBK;
  • - Chi cục THADS TPBK;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HSST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Th bị xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger