|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 22-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tuấn
Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Bá Sơn
Ông Trần Trọng Đại
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Thùy Linh và bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ tên: Vũ Thị H, sinh năm: 1976; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Nguyên quán: Xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi thường trú: Tổ A, khu A phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Vũ Văn T, sinh năm: 1928 đã chết; Con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1932; Chồng: Nguyễn Văn V, sinh năm: 1976 đã ly hôn; Con: Nguyễn Phương N, sinh năm: 1997 và Nguyễn Thành N1, sinh năm 2005; Gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/8/2024 đến ngày 29/8/2024 thì chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N.
- Họ tên: Nguyễn Anh C, sinh năm: 1977; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Nơi thường trú: Tổ H L, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/7/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tham ô tài sản”; Ngày 17/7/2009, Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh xử phạt hành chính về hành vi vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; Con ông: Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1940; Con bà: Trần Thị X, sinh năm: 1949; Vợ: Lê Thị T1, sinh năm: 1977 đã ly hôn; Con: Nguyễn Trang A, sinh năm: 2005; Gia đình có 3 anh em bị cáo là con thứ hai. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/8/2024 đến ngày 29/8/2024 thì chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N.
- Họ tên: Hoàng Khắc T2, sinh năm: 1985; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/02/2020, Công an huyện K, tỉnh Hưng Yên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác; Con ông: Hoàng Khắc S, sinh năm: 1960 đã chết; Con bà:Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1963; Vợ: Nguyễn Thị N2, sinh năm: 1985; Con: Có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Gia đình có 2 anh em bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2024 đến ngày 28/11/2024 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Công ty TNHH D. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng N3, Gíam đốc.
Địa chỉ: Tầng D số nhà E V, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. - Ông Nguyễn Văn H1; Địa chỉ: V, T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
-
Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn Đỗ Xá, xã Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên -
Anh Nguyễn Văn T4; sinh năm 1967
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Tại phiên tòa: Các bị cáo có mặt, người làm chứng Nguyễn Thị N2; Vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng Nguyễn Văn T4.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2021, Vũ Thị H bắt đầu kinh doanh, buôn bán các sản phẩm nước giặt, nước xả quần áo, nước rửa chén... (mua bán hàng qua mạng hoặc bán lẻ cho các nhà phân phối). Đến tháng 02/2024, nhận thấy thị trường nước giặt quần áo em bé nhãn hiệu D-nee (dạng can mẫu mới, có tay nắm chéo từ dưới nắp can đến giữa thân can, sản phẩm chính hãng được sản xuất tại Thái Lan, đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, do Công ty TNHH D nhập khẩu và phân phối độc quyền từ tháng 10/2023) được ưa chuộng, H đã nảy sinh ý định sản xuất làm giả các sản phẩm này để buôn bán kiếm lời. Từ tháng 4/2023, Vũ Thị H và Nguyễn Anh C thuê nhà của ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1967, tại thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên sống chung như vợ chồng và tập kết các loại hàng hóa mà H buôn bán kinh doanh.
Do trước đó, H đã quen biết và buôn bán, nhập hàng của Hoàng Khắc T2 các sản phẩm nước giặt, nước tẩy rửa tại Công ty TNHH S2 tại thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên (do vợ T2 là Nguyễn Thị N2, sinh năm 1985 đứng tên Giám đốc) chuyên sản xuất nước giặt nhãn hiệu Otis và Thai Dany, nước rửa chén nhãn hiệu Shinylight... H biết T2 có kinh nghiệm nhiều năm sản xuất các sản phẩm nước giặt, biết được công thức pha chế các loại dung dịch là giống nhau, chỉ khác về việc pha trộn chất tạo mùi nên H đã đề nghị T2 về việc sản xuất, pha chế dung dịch nước giặt giống như sản phẩm nước giặt D-nee và T2 đã đồng ý. Quá trình trao đổi, thỏa thuận, H sử dụng số điện thoại 0336.028.xxx và tài khoản Telegram để đặt T2 pha chế dung dịch nước giặt D-nee giả và đặt T2 mua các vỏ can, tem nhãn, vỏ thùng giống như sản phẩm nước giặt D-nee thật. T2 là người pha chế dung dịch và đóng can còn việc dán tem do H thực hiện.
Từ tháng 02/2024, H đã chuyển khoản từ tài khoản số [...] của mình mở tại Ngân hàng V1 đến số tài khoản 100564788888 mở tại Ngân hàng V2 của Hoàng Khắc T2 khoảng 75.924.900đ để mua nguyên liệu của T2, cụ thể như sau:
- Dung dịch nước giặt đơn giá 13.000 đồng/1 lít. Mua theo thùng (01 thùng có 4 can, mỗi can 3 lít) thì sẽ pha chế khoảng 12,8 lít giá là 166.400 đồng/1 thùng, tương đương 41.600 đồng/1 can.
- Vỏ can (bao gồm cả nắp), dạng can mẫu mới giả: 8.500 đồng/1 cái;
- Nhãn ghi nhãn hiệu D-nee giả: 1.500 đồng/1 cái;
- Tem ghi thông tin công ty D giả: 300 đồng/1 cái;
- Vỏ thùng D-nee giả: 15.000 đồng/1 cái.
Tổng chi phí đối với 01 thùng nước giặt D-nee giả (01 thùng có 04 can, mỗi can 3 lít): Dung dịch nước giặt giả 166.400 đồng + vỏ can giả 8.500 đồng x 4 + nhãn hiệu giả 1.500 đồng x 4 + tem giả 300 đồng x 4 + vỏ thùng giả 15.000 đồng = 216.600 đồng tương đương 54.150 đồng/1 can.
Từ tháng 02/2024 đến tháng 08/2024, sau khi được H đặt hàng làm nước giặt D- nee giả, T2 đã tự đặt mua các vỏ can D-nee giả, trực tiếp trộn hóa chất dựa trên công thức của T2 gồm xút (NaOH), chất hoạt động bề mặt, chất tạo đặc (HPMC), chất tạo hương (tùy loại sản phẩm nắp cam màu gì thì có loại chất tạo hương khác nhau), chất bảo quản và chất làm sạch nước, muối tinh khiết và nước sạch để pha chế thành các dung dịch nước giặt D-nee giả, sau đó rót dung dịch vào can, vặn nắp can rồi đặt mua các nhãn ghi D-nee giả (theo từng loại màu), tem phụ ghi Công ty D giả, vỏ thùng D-nee giả để bán rời các nguyên liệu cho H. T2 đã đặt mua các nguyên liệu (vỏ can, tem, nhãn, vỏ thùng) từ các người bán trên mạng xã hội (Facebook, Zalo...). H thường đặt hàng mỗi lần khoản 30 - 50 thùng (tương đương 120 – 200 can)/1 lần, mỗi tháng H thường đặt khoảng 01 - 02 đơn hàng nên T2 ước lượng từ tháng 02/2024 đến tháng 08/2024, T2 đã pha chế, bán cho H khoảng 250 – 300 thùng (tương đương khoản 1000 - 1200 can) dung dịch nước giặt D-nee giả kèm theo các nguyên liệu (tem, nhãn, vỏ thùng) với tổng trị giá khoảng 60 -70 triệu đồng. Theo đó, mỗi thùng dung dịch nước giặt (loại 4 can/thùng) T2 thu lợi 15.000 đồng tiền pha chế, sang chiết dung dịch. T2 đã hưởng lợi từ tiền công pha chế là 4.020.000đ.
Từ tháng 02/2024, sau khi đặt mua các nguyên liệu của T2 (can chứa dung dịch nước giặt, nhãn, tem, vỏ thùng D-nee giả) thì H mang toàn bộ về nhà thuê tại thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên cất giữ. Khi có khách hàng đặt mua, đối với các loại sản phẩm nước giặt D-nee giả loại nào (màu hồng, xanh da trời, tím...) thì H sẽ tự tay trực tiếp gắn nhãn, dán tem, đóng thùng, dán đề can màu thành các sản phẩm nước giặt D-nee giả để mang đi chào hàng, bán cho khách hàng. Nhiều lần Nguyễn Anh C đi cùng H đến nhận hàng tại xưởng sản xuất của T2, C biết việc H mua các nguyên liệu giả của T2 và C đã giúp sức cho H trong việc lái xe vận chuyển hàng giả, cùng H đi nhận hàng giả tại xưởng của T2 và cùng H đi giao hàng giả cho khách. Chính được H đưa tiền tiêu sinh hoạt hàng tháng khoảng 5.000.000₫ đến 6.000.000đ.
Đối với sản phẩm nước giặt D-nee giả (dạng can mẫu mới) H thường chào bán với giá từ 430.000 - 450.000 đồng/1 thùng (4 can). Sau khi trừ đi chi phí vận chuyển (khoảng 20.000 đồng/1 thùng), chi phí giảm giá, khuyến mại, chi phí tiền thuê nhà... H tính mỗi thùng bán được sẽ thu lãi khoảng 160.000 đồng/1thùng (tương đương khoảng 40.000 đồng/1 can).
Quá trình điều tra đã xác định H bán các sản phẩm nước giặt D-nee giả cho một số khách hàng tại địa bàn tỉnh Nam Định, cụ thể:
Nhà phân phối Tuyến Mười địa chỉ H T, thành phố N: Từ ngày 24/02/2024 đến tháng 8/2024, H đã sử dụng số điện thoại 0936.178.xxx và Zalo “Vu Huong” để liên lạc với S1 điện thoại 0968.329.xxx người phụ nữ khoảng 60 tuổi, H không biết tên, người đó giới thiệu là chủ của nhà phân phối Tuyến M; H đã bán cho nhà phân phối Tuyến Mười 04 đơn hàng có sản phẩm nước giặt D-nee giả với số lượng tổng cộng là 150 thùng (600 can) với đơn giá 440.000 đồng/1 thùng, tổng số tiền nhà phân phối Tuyến M đã thanh toán cho H là 66.000.000 đồng. Cả 4 lần H đi giao hàng thì C đều đi cùng, lái xe để giúp H trong việc vận chuyển và giao hàng giả cụ thể:
- Đơn hàng ngày 26/02/2024, nhà phân phối Tuyến Mười mua 45 thùng nước giặt D-nee giả (gồm 15 thùng màu tím, 15 thùng màu xanh da trời và 15 thùng màu hồng). Ngày 23/3/2024, H nhận thanh toán qua tài khoản của Nguyễn Anh C số tiền 19.800.000 đồng.
- Đơn hàng ngày 24/3/2024, nhà phân phối Tuyến Mười mua 30 thùng nước giặt D-nee giả (loại màu tím, xanh da trời). Ngày 16/4/2024, H nhận chuyển khoản thanh toán 13.200.000 đồng.
- Đơn hàng ngày 17/4/2024, nhà phân phối Tuyến Mười mua 30 thùng nước giặt D-nee giả (gồm 15 thùng màu tím, 10 thùng màu xanh da trời và 05 thùng màu hồng). Ngày 20/5/2024, H nhận chuyển khoản thanh toán 13.200.000 đồng.
- Đơn hàng ngày 21/6/2024, nhà phân phối Tuyến Mười mua 45 thùng nước giặt D-nee giả (gồm 30 thùng màu xanh da trời, 10 thùng màu tím và 05 thùng màu hồng). Ngày 18/7/2024, H nhận chuyển khoản thanh toán số tiền là 19.800.000 đồng.
Nhà phân phối Tường T5 (thành phố N): Ngày 30/6/2024 H đã bán cho nhà phân phối Tường T5 (cửa hàng tại A T và kho hàng tại C đường G, thành phố N) 20 thùng nước giặt D-nee giả với giá 8.600.000 đồng nhưng sau khi nhận hàng thì nhà phân phối Tường T5 đã trả lại không mua 20 thùng nước giặt D-nee giả này.
Khách hàng tên L (thị trấn X, tỉnh Nam Định): Ngày 15/8/2024, Vũ Thị H cùng Nguyễn Anh C gặp một người đàn ông tên L (khoảng 40 tuổi, giới thiệu trú tại thị trấn X, tỉnh Nam Định, sử dụng số điện thoại 0813.430.xxx) tại quán nước vỉa hè, gần khu vực siêu thị G (TP N) để thoả thuận, đặt hàng 70 thùng nước giặt D-nee giả với giá 450.000 đồng/1 thùng, tổng giá trị đơn hàng là 31.500.000 đồng. Tại đây, khách hàng tên L đã đặt cọc cho H 3,5 triệu đồng bằng tiền mặt và hẹn khi nào giao hàng tại thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định sẽ trả nốt 28 triệu đồng tiền hàng còn lại.
Khoảng 10 giờ kém ngày 20/8/2024 H cùng Nguyễn Anh C điều khiển ô tô tải, Biển kiểm soát số 36C-210.82 vận chuyển giặt D-nee giả xuất phát từ nơi ở của H và C tại thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên để đi đến điểm hẹn giao hàng như đã thỏa thuận với L. Đến 10 giờ 30 phút ngày 20/8/2024, khi H và C đi đến km 104 + 200 Quốc lộ B, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng gồm: 71 thùng nước giặt D-nee, loại 01 thùng 4 can 3 lít (30 thùng màu xanh da trời, 31 thùng màu tím, 10 thùng màu hồng, trong đó có 01 thùng màu tím là hàng H khuyến mại cho L) và 10 thùng nước xả Hygiene, loại 01 thùng 08 túi 1,15 lít (hàng mới, trên nhãn ghi sản xuất tại Thái Lan).
Ngày 21/8/2024, Cơ quan điều tra Công an tỉnh N tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ thuê ở của Vũ Thị H và Nguyễn Anh C tại thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đã thu giữ các vật chứng: 188 can nước giặt D-nee giả đã sản xuất ra nhưng chưa bán được (trong đó có 72 can có nắp và nhãn màu hồng, 14 can có nắp và nhãn màu xanh da trời và 102 can có nắp và nhãn màu tím); 212 can loại 3.000ml bên trên nắp can có chữ NEO không có tem mác (trong đó có 60 can nắp màu hồng, 144 can có nắp màu xanh da trời, 8 can có nắp màu tím); 932 nhãn bằng giấy ni lông ghi nhãn hiệu D-nee (trong đó có 21 nhãn của loại nắp can màu hồng, 452 cái nhãn của loại can nắp màu tím, 450 cái nhãn của loại can nắp màu xanh da trời); 248 cái tem phụ bằng giấy dán đề can trên có ghi thông tin của công ty D; 478 cái đề can hình chữ nhật; 26 cái vỏ bằng bìa cát tông; 13 túi nước xả vải Hygiene, các sản phẩm nước rửa chén Talau; can thành phẩm và chưa thành phẩm kèm theo các loại nhãn, đề can loại nước giặt ghi nhãn hiệu D- nee (loại mẫu can cũ).
Ngày 21/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N trưng cầu giám định hoá học đối với 03 loại sản phẩm nước giặt nhãn hiệu D-nee (màu hồng, màu xanh da trời, màu tím) đã thu giữ khi bắt quả tang ngày 20/8/2024. Tại Kết luận giám định số 6433/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của V3 Bộ C1 kết luận: Chất lỏng trong các can mẫu vật gửi giám định (loại can có nắp màu hồng, xanh da trời, tím) đều không cùng loại với mẫu nước giặt trong các can nước giặt nhãn hiệu D-nee Organic (tương ứng) do Công ty TNHH D cung cấp làm mẫu so sánh.
Ngày 04/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã trưng cầu giám định hoá học đối với chất liệu vỏ can và nắp đậy của 03 loại sản phẩm nước giặt nhãn hiệu D-nee (màu hồng, màu xanh da trời, màu tím) đã thu giữ khi bắt quả tang ngày 20/8/2024 và thu giữ khi khám xét ngày 21/8/2024. Tại Kết luận giám định số 1703/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu vật liệu vỏ can và nắp can của các can mẫu vật gửi giám định (loại can có nắp màu hồng, xanh da trời, tím) đều là nhựa và đều không cùng loại với mẫu nhựa của vỏ can và nắp can nước giặt nhãn hiệu D-nee Organic (tương ứng) do Công ty TNHH D cung cấp làm mẫu so sánh.
Ngày 04/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh trưng cầu giám định tài liệu đối với phương pháp in nhãn và tem phụ của 03 loại sản phẩm nước giặt nhãn hiệu D-nee (màu hồng, màu xanh da trời, màu tím) đã thu giữ khi bắt quả tang ngày 20/8/2024 và thu giữ khi khám xét ngày 21/8/2024. Tại Kết luận giám định số 1704/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Các lớp in trên mẫu cần giám định (nhãn, tem gắn trên các can nước giặt và các nhãn, tem chưa gắn đối với loại can có nắp màu hồng, xanh da trời, tím; vỏ thùng) đều không cùng các bản in tương ứng so với các lớp in trên mẫu so sánh (các nhãn gắn trên sản phẩm, tem phụ và vỏ thùng do Công ty TNHH D cung cấp).
Ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã yêu cầu định giá tài sản giá trị hàng hoá tương đương với hàng thật thu giữ khi bắt quả tang ngày 20/8/2024. Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Nam Định đã kết luận: Giá trị 01 can nước giặt nhãn hiệu D-nee (loại can nắp màu hồng, xanh da trời và tím) là 128.369 đồng/can, giá trị chưa tính thuế VAT.
Tại cơ quan điều tra đại diện của công ty D xác nhận: Đối với các sản phẩm nước giặt ghi nhãn hiệu D-nee, mẫu vỏ can cũ (màu hồng, xanh da trời, tím, xanh lá cây và trắng) do Cơ quan điều tra thu giữ là các sản phẩm không phải do Công ty D nhập khẩu & phân phối tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên các sản phẩm này vẫn dán tem, nhãn “D-nee” có dấu hiệu là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu “D-nee” đã được bảo hộ tại Việt Nam.
Tại cơ quan điều tra đại diện của Công ty TNHH I xác nhận: Công ty là đơn vị nhập khẩu và phân phối hợp pháp các sản phẩm nước xả vải Hygiene từ I. ONE Company Limited (pháp nhân quốc tịch Thái Lan) là chủ sở hữu nhãn hiệu “Hygiene” đã được đăng ký sở hữu công nghiệp tại Việt Nam. Về số hàng nước xả vải nhãn hiệu Hygiene loại 1.150ml/1 túi, Công ty I1. ONE xác nhận đã ngừng nhập khẩu và phân phối sản phẩm Nước xả đậm đặc làm mềm vải Hygiene 1150ml (màu đen) từ ngày 01/01/2024, mẫu sản phẩm bị Cơ quan điều tra thu giữ cung cấp không phải là sản phẩm do công ty nhập khẩu và phân phối tại thị trường Việt Nam.
Cơ quan điều tra xác minh tại Cục S3, Bộ K1 và Công nghệ và các đơn vị nhập khẩu (Công ty D, Công ty I1) xác định:
- Các sản phẩm nước giặt nhãn hiệu D-nee (dạng can mẫu cũ đã ngừng sản xuất và nhập khẩu từ tháng 10/2023) và nước xả vải nhãn hiệu Hygiene (dạng túi 1.150ml, mẫu cũ đã ngừng nhập khẩu từ tháng 01/2024) đều đang được bảo hộ tại Việt Nam. Các đơn vị được uỷ quyền nhập khẩu phân phối đều xác nhận các sản phẩm này không phải là hàng do các đơn vị này nhập khẩu, phân phối; không có mẫu hàng thật để so sánh.
- Đối với nhãn hiệu của loại sản phẩm nước rửa chén “Tauau” hoặc “Talau” đã hết thời hạn được bảo hộ tại Việt Nam từ ngày 16/07/2024; đặc điểm các sản phẩm này đều không ghi rõ nguồn gốc xuất xứ (nơi sản xuất, và H không cung cấp được hoá đơn chứng từ gì) có dấu hiệu của hành vi kinh doanh hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ.
- Đối với vật chứng thu giữ khi khám xét nhà thuê của H gồm: 93 túi nước xả làm mềm vải đen; 75 can nước giặt D-nee Oganic; 120 can có tay nắm nhô lên ngang bằng nắp can, bên trên nắp có chữ NEO; 12 Can màu trắng, có nhãn hiệu bằng chữ “Taulau”; 90 can màu trắng không có tem nhãn có cùng kiểu dáng với nước rửa chén nhãn hiệu Talau cũng như các nguyên liệu chưa thành phẩm phục vụ việc sản xuất nước giặt D-nee giả, do không xác minh, thu thập được mẫu so sánh tương đồng và không có hàng thật để so sánh nên dẫn đến không trưng cầu giám định và định giá tài sản được. Do đó, Cơ quan điều tra chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với ô tô tải Biển kiểm soát số 36C-210.82 mà H và C sử dụng để vận chuyển hàng giả, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định: Người đứng tên trên đăng ký xe là Nguyễn Văn H1, địa chỉ: V, T, S, Thanh Hóa. Năm 2019, ông H1 đã bán xe cho một người không quen biết với giá 200.500.000 đồng. Bị cáo H xác nhận tháng 3/2023 đã mua chiếc xe ô tô trên của 01 người đàn ông môi giới với giá 125 triệu đồng. Xe không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng.
Tại cơ quan điều tra: Nguyễn Thị N2, sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên là vợ bị cáo Hoàng Khắc T2 khai nhận: Mặc dù N2 đứng tên giám đốc Công ty S2 (do T2 thành lập từ năm 2020). Tuy nhiên, thực tế N2 đi dạy tiếng Nhật tại các trung tâm nên không tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty S2. Toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Công ty S2 và xưởng sản xuất đặt tại nhà T2, N2 (thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên) đều do T2 điều hành, thực hiện. Trong đó T2 là người trực tiếp pha chế các dung dịch nước giặt, rót ra can, đóng nắp can, ngoài ra T2 thuê một số nhân viên lao động (do Trung tâm V4 giới thiệu) để phụ giúp việc bốc xếp hàng hoá. N2 khai việc biết Vũ Thị H và Nguyễn Anh C do một số lần H cùng C đến xưởng của T2 lấy hàng (các sản phẩm nước giặt, nước lau sàn, nước rửa kính do Công ty S2 sản xuất); N2 không biết việc thoả thuận, buôn bán hàng hoá giữa T2 và H. Ngoài ra, có một số lần (khoảng năm 2023) T2 mượn tài khoản của N2 để nhận tiền bán hàng của H và C, nhưng N2 không biết T2 bán cho H sản phẩm gì.
Nguyễn Văn T4, sinh năm 1967, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, là người cho H và C thuê nhà khai nhận: T4 cho Nguyễn Anh C và Vũ Thị H thuê nhà tại thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên từ tháng 4/2023, theo hợp đồng cho thuê nhà ông T4 ký với Nguyễn Anh C ngày 13/4/2023, với giá thuê là 4.000.000 đồng/1 tháng. C nói là cùng vợ (H) thuê nhà để cất xe ô tô và để ở. Quá trình thuê nhà, sinh sống ở đây, C và H thường đi vắng và đóng kín cửa nên T4 không gặp H và C và cũng không biết gì về hoạt động kinh doanh, buôn bán của H và C.
Các bị cáo Vũ Thị H, Nguyễn Anh C và Hoàng Khắc T2 đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội như nêu trên. Quá trình điều tra, gia đình Vũ Thị H đã nộp cho Cơ quan điều tra số tiền H thu lời bất chính 27.500.000 đồng.
* Vật chứng chuyển cục THADS tỉnh N: Các sản phẩm thành phẩm; nguyên liệu, công cụ phương tiện phục vụ việc sản xuất, buôn bán hàng giả (nước giặt D-nee giả dạng can mẫu mới) và các mẫu vật nhận lại sau giám định, cơ quan điều tra đã thu giữ được của H; 01 xe ô tô tải loại thùng kín, nhãn hiệu THACO, biển kiểm soát 36C-210.82; số máy: J2770859; số khung: RNHA440AKHC033110; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu vàng hồng, sáng màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 8 Plus; số máy: MQ8V2LL/A; số sêri: F18W5STDJCM4; IMEI: 35 297709 740739 2; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0336.028.xxx là điện thoại thu giữ của Vũ Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu đen, tối màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 7; số máy: MX8X2VN/A; số sêri: F74YFZNWHG7F; IMEI 35 868409 488985 3; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0936.178.xxx (không có mật khẩu điện thoại) là điện thoại thu giữ của Vũ Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu vàng hồng, sáng màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 7 Plus; số máy: 3C373B/A; số sêri: F2LSF83BHG04; IMEI: 35 921707 034906 0; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0963.356.xxx là điện thoại thu giữ của Nguyễn Anh C; Số tiền 27. 500.000đ H nộp khắc phục hậu quả.
* Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án: Đối với những vật chứng: gồm 01 quyển sổ thu giữ tại nơi ở của bị cáo Vũ Thị H và 02 quyển sổ thu giữ tại nơi ở và nơi làm việc của bị cáo Hoàng Khắc T2. Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ truy tố, xét xử.
Cáo trạng số: 106/CT-VKS-P3 ngày 06-12-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Vũ Thị H về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 192 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nguyễn Anh C về tội “Buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 192 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Hoàng Khắc T2 về tội “Sản xuất hàng giả” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 192 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà: Các bị cáo Vũ Thị H, Nguyễn Anh C, Hoàng Khắc T2 đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định trình bày luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 192, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Vũ Thị H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” ; Áp dụng khoản 1 Điều 192, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Anh C từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Buôn bán hàng giả” ; Áp dụng khoản 1 Điều 192, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Khắc T2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Sản xuất hàng giả” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017 để xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; kết luận giám định; biên bản đối chất; lời khai người làm chứng và các tài liệu trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2024 đến tháng 08/2024, Vũ Thị H đã trao đổi, thỏa thuận với Hoàng Khắc T2 và mua của T2 dung dịch nước giặt D-nee giả do T2 tự pha chế đóng can và các tem nhãn, vỏ thùng nước giặt D-nee giả sau đó H tự gắn nhãn mác, đóng thùng tại địa chỉ thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên hoàn thiện thành sản phẩm nước giặt D-nee giả giống sản phẩm D-nee do công ty TNHH D - đơn vị nhập khẩu và phân phối, được bảo hộ tại thị trường Việt Nam. H đã sản xuất 1.072 can nước giặt D-nee giả tương đương với giá trị hàng thật là 137.611.568 đồng và đã bán ra thị trường 880 can nước giặt D-nee giả với giá từ 440.000đ/thùng đến 450.000đ/1 thùng, thu được thực tế số tiền 69.500.000đ, thu lời bất chính là số tiền 27.500.000đ. Hành vi của Vũ Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” theo quy định tại khoản 1 Điều 192 BLHS.
Hoàng Khắc T2 đồng ý sản xuất nước giặt D-nee giả cho H, đã mua các nguyên liệu qua mạng xã hội và tự pha chế dung dịch nước giặt D-nee giả, đóng thành can sau đó bán cho H cũng với tem nhãn, vỏ thùng giả nước giặt D-nee để H tự hoàn thiện sản phẩm nước giặt D-nee giả, thu lời bất chính số tiền công pha chế dung dịch nước giặt D- nee là 4.020.000đ. Hành vi của Hoàng Khắc T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất hàng giả” theo quy định tại khoản 1 Điều 192 BLHS.
Nguyễn Anh C đã giúp sức cho Vũ Thị H vận chuyển và giao nước giặt D-nee giả cho khách hàng để kiếm lời và được H trả tiền chi tiêu sinh hoạt hàng tháng từ 5000.000đ đến 6.000.000đ. Hành vi của Nguyễn Anh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng giả” theo quy định tại khoản 1 Điều 192 BLHS.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trong lĩnh vực kinh doanh, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. HĐXX, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo; Bị cáo H có bố, mẹ được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và hạng nhì và có anh trai là liệt sỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bản thân H bệnh tật, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo H đã nộp vào ngân sách nhà nước số tiền chiếm hưởng bất chính; Nguyễn Anh C có bố đẻ được chủ tịch nước tặng thưởng nhiều Huân chương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. HĐXX áp dụng khoản 2 điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H và bị cáo C.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Vũ Thị H, Hoàng Khắc T2, Nguyễn Anh C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo và hình phạt: Các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Vũ Thị H là người trực tiếp sản xuất hàng giả và mang đi tiêu thụ trên thị trường nên giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Hoàng Khắc T2 là người trực tiếp sản xuất hàng giả sau đó bán cho H để H sản xuất và đi bán trên thị trường. Nguyễn Anh C có vai trò giúp sức cho Vũ Thị H trong việc buôn bán hàng giả. HĐXX quyết định hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của từng bị cáo trong đồng phạm; Bị cáo T2 phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, tham gia vai trò đồng phạm giúp sức, số tiền thu lợi bất chính không đáng kể. Do đó, HĐXX quyết định hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm đồng thời thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Biện pháp tư pháp: Các sản phẩm thành phẩm; nguyên liệu, công cụ phương tiện phục vụ việc sản xuất, buôn bán hàng giả (nước giặt D-nee giả dạng can mẫu mới) và các mẫu vật nhận lại sau giám định, cơ quan điều tra đã thu giữ được của H; Những vật chứng này nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
01 xe ô tô tải loại thùng kín, nhãn hiệu THACO, biển kiểm soát 36C-210.82; số máy: J2770859; số khung: RNHA440AKHC033110; Người đứng tên đăng ký xe là Nguyễn Văn H1, địa chỉ: V, T, S, Thanh Hóa. Năm 2019, ông H1 đã bán xe cho một người không quen biết với giá 200.500.000 đồng. Bị cáo H xác nhận tháng 3/2023 đã mua chiếc xe ô tô trên của 01 người đàn ông môi giới với giá 125 triệu đồng. Xe ô tô không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng. HĐXX xác định chiếc ô tô là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp giao dịch mua bán ô tô nêu trên thì các bên giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu vàng hồng, sáng màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 8 Plus; số máy: MQ8V2LL/A; số sêri: F18W5STDJCM4; IMEI: 35 297709 740739 2; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0336.028.xxx (mật khẩu điện thoại 123456) là điện thoại thu giữ của Vũ Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu đen, tối màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 7; số máy: MX8X2VN/A; số sêri: F74YFZNWHG7F; IMEI 35 868409 488985 3; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0936.178.xxx (không có mật khẩu điện thoại) là điện thoại thu giữ của Vũ Thị H; Những điện này không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Vũ Thị H.
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu vàng hồng, sáng màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 7 Plus; số máy: 3C373B/A; số sêri: F2LSF83BHG04; IMEI: 35 921707 034906 0; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0963.356.xxx (mật khẩu điện thoại 140013) là điện thoại thu giữ của Nguyễn Anh C; Chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh C.
Số tiền 27.500.000đ là số tiền bị cáo Vũ Thị H nộp khắc phục hậu quả được tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Số tiền H thu được 69.500.000 đồng do H bán sản phẩm giả ra thị trường. Đây là số tiền do phạm tội mà có nên truy thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Số tiền Hoàng Khắc T2 thu lời bất chính là 4.020.000 đồng. Đây là số tiền do phạm tội mà có nên truy thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[8] Những vấn đề liên quan trong vụ án.
Đối khách hàng tên L ở huyện X, tỉnh Nam Định là người đã đặt mua của H 70 thùng nước giặt D-nee giả, Cơ quan điều tra không xác minh được địa chỉ cụ thể nên không đặt ra vấn đề xử lý.
Đối với nhà phân phối Tường T5 – thành phố N: H khai đã bán 20 thùng nước giặt D-nee giả, tuy nhiên sau đó đã bị nhà phân phối Tường T5 trả lại do đó cơ quan điều tra không có đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh hành vi vi phạm nên không đặt ra vấn đề xem xét xử lý.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Văn T4 cho H thuê nhà nhưng ông T4 không biết H và C sử dụng để sản xuất, buôn bán hàng giả nên không đặt ra vấn đề xem xét, xử lý.
Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị N2 (vợ T2): N2 không biết việc thỏa thuận, sản xuất buôn bán hàng hóa giả giữa T2 và H, N2 không giúp sức cho T2 trong việc trực tiếp pha chế các dung dịch nước giặt giả nên không đặt ra vấn đề xem xét, xử lý.
Đối với nhà phân phối Tuyến M – thành phố N: H đã bán cho nhà phân phối Tuyến Mười 150 thùng (600 can) nước giặt D-nee giả với số tiền 66.000.000đ. Người liên hệ mua hàng của H có số điện thoại 0968.329.xxx nhưng H không biết nhân thân, lai lịch cụ thể nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với nhà phân phối Tuyến M. Cơ quan điều tra đã tách hành vi mua bán nước giặt D-nee giả của nhà phân phối Tuyến M để tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với Công ty TNHH D trong quá trình giải quyết vụ án không có yêu cầu đề nghị gì. HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”, Nguyễn Anh C phạm tội “Buôn bán hàng giả”, Hoàng Khắc T2 phạm tội “Sản xuất hàng giả”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 192, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Vũ Thị H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20-8-2024.
- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 192, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Anh C 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20-8-2024.
-
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 192, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Hoàng Khắc T2 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Hoàng Khắc T2 đã bị tạm giam từ ngày 24-10-2024 đến ngày 28-11-2024.
Giao bị cáo Hoàng Khắc T2 cho UBND xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017
- Truy thu của Vũ Thị H số tiền 69.500.000 đồng (sáu mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
- Truy thu của Hoàng Khắc T2 số tiền 4.020.000 đồng (bốn triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 27.500.000đ Vũ Thị H đã nộp khắc phục hậu quả.
- Tịch thu và tiêu hủy: Các sản phẩm thành phẩm; nguyên liệu, công cụ phương tiện phục vụ việc sản xuất, buôn bán hàng giả (nước giặt D-nee giả dạng can mẫu mới) và các mẫu vật nhận lại sau giám định, cơ quan điều tra đã thu giữ được của H;
- Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước: 01 xe ô tô tải loại thùng kín, nhãn hiệu THACO, biển kiểm soát 36C-210.82; số máy: J2770859; số khung: RNHA440AKHC033110; Người đứng tên đăng ký xe là Nguyễn Văn H1, địa chỉ: V, T, S, Thanh Hóa.
- Trả lại cho Vũ Thị H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu vàng hồng, sáng màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 8 Plus; số máy: MQ8V2LL/A; số sêri: F18W5STDJCM4; IMEI: 35 297709 740739 2; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0336.028.xxx và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu đen, tối màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 7; số máy: MX8X2VN/A; số sêri: F74YFZNWHG7F; IMEI 35 868409 488985 3; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0936.178.xxx (không có mật khẩu điện thoại) nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- Trả lại cho Nguyễn Anh C01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, vỏ điện thoại màu vàng hồng, sáng màu, đã qua sử dụng; tên kiểu máy: Iphone 7 Plus; số máy: 3C373B/A; số sêri: F2LSF83BHG04; IMEI: 35 921707 034906 0; bên trong có gắn 01 sim số điện thoại 0963.356.xxx nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng số 25/29 ngày 09-12-2024 và Ủy nhiệm chi số 91 ngày 16-12-2024 giữa Cơ quan CSĐT (PC03) - Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo Vũ Thị H, Nguyễn Anh C, Hoàng Khắc T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên qua vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND Cấp cao; - VKND tỉnh Nam Định; - Công an tỉnh Nam Định; - Sở tư pháp Nam Định; - Cục THADS tỉnh Nam Định; - Bị cáo; NLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Anh Tuấn |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về sản xuất, buôn bán hàng giả
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng giả
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị H và đp - Buôn bán hàng giả