|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 22-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Tân – Giáo viên hưu trí.
2. Ông Phạm Quang Nghĩa – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Trung tâm Văn hóa thể thao - Học tập cộng đồng xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Doãn Văn H (tên gọi khác: Q), sinh năm 1992, tại Đồng Nai; Nơi cư trú:
Tổ A, thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Doãn Văn H1, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1955; Vợ: Dương Thị T, sinh năm 1999; Con: Có 01 người con sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2024 cho đến nay.
(Bị cáo mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Khánh D, sinh ngày 14/01/2009. (có mặt)
- Ông Hoàng Quang S1, sinh năm 1964. (có mặt)
- Anh Lưu Văn T1, sinh năm 1992. (vắng mặt)
- Anh Doãn Văn H3, sinh năm 1990. (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Quang S1, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1967, là cha mẹ ruột đại diện theo pháp luật. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp V, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Doãn Văn H là người không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân, đã nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về bán lại để kiếm lời, cụ thể như sau:
Thông qua các mối quan hệ bạn bè ngoài xã hội, H biết một người tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực ngã tư Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, có bán pháo nổ. Ngày 30/11/2024, H đã điều khiển xe ô tô biển số 72A-242.92 một mình đi đến khu vực ngã tư Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, H gặp L hỏi mua 15 hộp pháo hoa nổ, loại giàn 49 ống phóng, L đồng ý. L thoả thuận bán cho H với giá 600.000 đồng/hộp, tổng 15 hộp là 9.000.000 đồng, thì H đồng ý. Sau khi mua được pháo hoa nổ, H đưa về nhà bố mẹ vợ của H tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cất giấu sau nhà. Việc H cất giấu pháo hoa nổ sau nhà thì không có ai khác biết.
Thông qua mạng xã hội, H có biết Hoàng Khánh D có nhu cầu mua pháo hoa nổ nên H đã liên hệ thoả thuận bán pháo hoa nổ cho D. Từ ngày 01/12/2024 đến ngày 04/12/2024, H đã bán cho D được 02 lần, 10 hộp pháo nổ, thu lợi bất chính số tiền 8.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Vào trưa ngày 01/12/2024, D gọi điện thoại bằng số điện thoại 0964.690.xxx cho H qua số điện thoại 0921.675.xxx để hỏi mua 05 hộp pháo hoa nổ, loại giàn 49 ống phóng, H đồng ý và thoả thuận bán với giá 800.000 đồng/hộp, đồng thời, H hẹn D đến khu vực trước cổng chợ B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để giao dịch. Một lúc sau, D tới điểm hẹn và gọi cho H đi ra, tại đây H đã bán cho D 05 hộp pháo hoa nổ loại giàn 49 ống phóng và D trả tiền mặt cho H số tiền 4.000.000 đồng. Lấy được pháo hoa nổ, D đưa về nhà ở ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cất giấu trong phòng ngủ của D với mục đích để bán lại cho người khác để kiếm lời.
- Lần thứ hai: Vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 04/12/2024, D tiếp tục điện thoại cho H hỏi mua 05 hộp pháo hoa nổ loại giàn 49 ống phóng với giá 800.000 đồng/hộp, thì H đồng ý. Giống như lần trước, H hẹn D đến khu vực đầu chợ B, xã X để lấy pháo. Sau đó, D điều khiển xe mô tô, biển số 60B5-094.28 đi một mình đến khu vực đầu chợ B và gọi cho H. Một lúc sau, H đi ra điểm hẹn và đã bán cho D 05 hộp pháo hoa nổ loại giàn 49 ống phóng, D trả tiền mặt cho H số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi mua được pháo, D chở 05 (năm) hộp pháo hoa nổ về nhà với mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời. Khi D chở 05 hộp pháo hoa nổ về tới đoạn đường thuộc tổ A, ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thì bị tổ tuần tra Công an huyện X kiểm tra và phát hiện đang vận chuyển 05 hộp pháo hoa nổ. Sau đó, D tự nguyện giao nộp 05 hộp pháo hoa nổ mua của H vào ngày 01/12/2024 đang cất giấu tại nhà của D.
Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/12/2024, khi Doãn Văn H đang điều khiển xe ô tô biển số 72A-242.92 đi một mình chở theo 05 hộp pháo hoa nổ còn lại ra khu vực đầu đường B - T giao với Quốc lộ A, thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an huyện X kiểm tra và phát hiện 05 hộp pháo hoa nổ trên xe H điều khiển. Lực lượng Công an đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với H và niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 7479/KL-KTHS, ngày 11/12/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu vật ký hiệu M1 gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, khối lượng là 7,5kg; Mẫu vật ký hiệu M2 gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, khối lượng là 08kg; Mẫu vật ký hiệu M3 gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, khối lượng là 08kg.
Vật chứng vụ án:
- - 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có 49 (bốn mươi chín) ống phóng, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc có chữ nước ngoài, thu giữ trên xe mô tô của Hoàng Khánh D. Niêm phong ký hiệu M1;
- - 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có 49 (bốn mươi chín) ống phóng, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc có chữ nước ngoài, thu giữ trong nhà của Hoàng Khánh D. Niêm phong ký hiệu M2;
- - 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có 49 (bốn mươi chín) ống phóng, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc có chữ nước ngoài, thu giữ trên xe ô tô của Doãn Văn H. Niêm phong ký hiệu M3;
- - 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát: 60B5-094.28; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, gắn sim số: 0964.690.xxx.
- - 01 (một) xe ô tô hiệu TOYOTA INNOVA, biển số 72A-242.92.
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng NOKIA màu xanh, gắn sim số 0921.675.508;
- - Số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSXL ngày 08 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Doãn Văn H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên; Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có con còn nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Doãn Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người tham gia tố tụng khác. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Từ ngày 01/12/2024 đến ngày 04/12/2024, Doãn Văn H đã bán cho Hoàng Khánh D 02 lần 10 hộp pháo hoa nổ có khối lượng là 15,5kg, thu lợi bất chính số tiền 8.000.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/12/2024, khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Doãn Văn H thì phát hiện H đang vận chuyển 05 hộp pháo hoa nổ, khối lượng 08kg với mục đích đi bán cho người khác. Tổng khối lượng pháo hoa nổ mà Doãn Văn H tàng trữ nhằm mục đích mua bán là 23,5kg. Do đó, hành vi của bị cáo Doãn Văn H đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm vào chế độ quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ. Việc gia tăng tình trạng vận chuyển, buôn bán và đốt pháo nổ vào dịp tết trong những năm gần đây có dấu hiệu gia tăng, gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, làm mất ổn định tại địa phương. Bị cáo biết rõ pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm sử dụng, buôn bán nhưng vẫn mua để bán lại kiếm lời. Bị cáo vi phạm với lỗi cố ý, cần có hình phạt tương xứng với hành vi đối với bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bán 02 lần pháo hoa nổ cho Hoàng Khánh D nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có con còn nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Đối với đối tượng tên L là người đã bán pháo hoa nổ cho Doãn Văn H tại khu vực ngã tư Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh do không xác minh được nhân thân lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý. Đối với Hoàng Khánh D đã có hành vi mua 10 hộp pháo nổ của Doãn Văn H với tổng khối lượng 15,5 kg nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Do khi thực hiện hành vi D chưa đủ 16 tuổi nên căn cứ khoản 2, Điều 12 Bộ luật Hình sự, hành vi nêu trên của Hoàng Khánh D không đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D là phù hợp.
[6] Vật chứng vụ án:
Mẫu vật còn lại sau giám định gồm:
- + 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có ống hình trụ tròn, mỗi khối trích lại 01 ống làm mẫu giám định. Đã niêm phong trong thùng giấy carton. Trên giấy niêm phong có dấu tròn của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B), chữ ký của Nguyễn Trần Duy K, Nguyễn Ngọc T2.
- + 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có ống hình trụ tròn, mỗi khối trích lại 01 ống làm mẫu giám định. Đã niêm phong trong thùng giấy carton. Trên giấy niêm phong có dấu tròn của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B), chữ ký của Nguyễn Trần Duy K, Nguyễn Ngọc T2.
- + 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có ống hình trụ tròn, mỗi khối trích lại 01 ống làm mẫu giám định. Đã niêm phong trong thùng giấy carton. Trên giấy niêm phong có dấu tròn của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B), chữ ký của Nguyễn Trần Duy K, Nguyễn Ngọc T2.
Là hàng cấm trong vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 60B5-094.28 và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, gắn sim số 0964.690.xxx là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Hoàng Quang S1 (bố ruột của D) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trả lại cho ông S1 là phù hợp.
- - 01 (một) xe ô tô hiệu TOYOTA INNOVA, biển số 72A-242.92 đứng tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Lê N, ông Lưu Văn T1 đã mua lại chiếc xe ô tô này của bà N (có hợp đồng mua bán xe), ông T1 ký hợp đồng cho thuê xe tự lái đối với xe ô tô trên với anh Doãn Văn H3 (anh ruột của H), H đã mượn anh H3 chiếc ô tô trên để chở gia đình đi bệnh viện nên anh H3 đồng ý và giao xe cho H. Việc H sử dụng xe ô tô trên để thực hiện hành vi mua bán pháo hoa nổ thì anh T1 và anh H3 hoàn toàn không biết và không giúp sức gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại xe ô tô nêu trên cho ông T1 là phù hợp.
- - 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng NOKIA màu xanh của Doãn Văn H dùng làm phương tiện liên lạc để giao dịch mua bán, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công.
- - 01 (một) sim số 0921.675.508 của Doãn Văn H dùng để liên lạc buôn bán hàng cấm, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 1.700.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ hành vi buôn bán hàng cấm của Doãn Văn H nên tịch thu sung công.
[7] Đối với số tiền 8.000.000 đồng do bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi buôn bán hàng cấm, trong quá trình tố tụng bị cáo đã nộp 1.700.000 đồng, nên cần buộc bị cáo tiếp tục nộp bổ sung số tiền 6.300.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Doãn Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Doãn Văn H 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có ống hình trụ tròn, mỗi khối trích lại 01 ống làm mẫu giám định. Đã niêm phong trong thùng giấy carton. Trên giấy niêm phong có dấu tròn của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B), chữ ký của Nguyễn Trần Duy K, Nguyễn Ngọc T2.
- + 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có ống hình trụ tròn, mỗi khối trích lại 01 ống làm mẫu giám định. Đã niêm phong trong thùng giấy carton. Trên giấy niêm phong có dấu tròn của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B), chữ ký của Nguyễn Trần Duy K, Nguyễn Ngọc T2.
- + 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi khối (17 x 17 x 10)cm, bên trong mỗi khối có ống hình trụ tròn, mỗi khối trích lại 01 ống làm mẫu giám định. Đã niêm phong trong thùng giấy carton. Trên giấy niêm phong có dấu tròn của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B), chữ ký của Nguyễn Trần Duy K, Nguyễn Ngọc T2.
Tổng cộng là 12 hộp pháo hình chữ nhật (12 hộp x 48 ống = 576 ống). Vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ và bảo quản tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ (theo Quyết định nhập kho số 223/QĐ-BCh ngày 24/12/2024 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ; Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/12/2024 giữa Điều tra viên Nguyễn Ngọc T2 thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X với Cán bộ quân lực Bùi Nguyễn Quốc Đ thuộc Phòng tham mưu Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ; Lệnh nhập kho ngày 23/12/2024 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ)
- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động kiểu dáng NOKIA màu xanh;
- Tịch thu tiêu hủy sim số 0921.675.508
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc).
- Tịch thu sung công số tiền 1.700.000 đồng
(theo Giấy nộp tiền ngày 08/01/2025 tại L1, vào tài khoản số 39490103659800000 của V chi nhánh Đ1 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc).
- Buộc bị cáo Doãn Văn H tiếp tục nộp số tiền 6.300.000 đồng
(Sáu triệu ba trăm ngàn đồng) là tiền thu lợi bất chính từ việc buôn bán hàng cấm để sung vào công quỹ Nhà nước.
3. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Doãn Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Doãn Văn H và đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hạ |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Doãn Văn H buôn bán pháo hoa nổ
