|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS - ST Ngày 03/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Quý Sáng; 2. Bà Đinh Thị Út
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tham gia phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 03/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22 tháng 12 năm 1984; tại: huyện V, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn S, sinh năm 1966 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là: Hoàng Kim L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 20/9/2023 bị Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai phạt tiền 6.500.000đ về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, ngày 25/9/2023 Hà Văn T thi hành xong khoản tiền nộp phạt.
Nhân thân: Ngày 31/7/2018 bị Phòng C1 Công an tỉnh L phạt tiền 5.000.000 đồng về hành vi tụ tập người khác đánh bạc trái phép, ngày 31/7/2018 Hà Văn T thi hành xong khoản tiền nộp phạt. Ngày 14/6/2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm tù, phạt tiền 20.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Án chưa có hiệu lực do Hà Văn T kháng cáo, chờ xét xử phúc thẩm.
Bị cáo Hà Văn T bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. Có mặt.
Ngô Đình T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 6 năm 1966 tại: huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Đình H, sinh năm 1916 (đã chết); Con bà: Phạm Thị T2, sinh năm 1918 (đã chết); Gia đình bị cáo có 09 anh em, bị cáo là con thứ chín; Vợ là: Phạm Thị A, sinh năm 1967; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/8/2016 bị Công an huyện V, tỉnh Lào Cai phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 23/8/2016 Ngô Đình T1 đã thi hành xong khoản tiền phạt.
Bị cáo Ngô Đình T1 bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 06/6/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
La Hồng L1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09 tháng 6 năm 1982; tại: huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố là: La Văn C, sinh năm 1942 (đã chết); Mẹ là: Phạm Thị Đ, sinh năm 1948; Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ 07; Chồng là: Nguyễn Đức T3, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 năm 02 tháng, kể từ ngày tuyên án. Ngày 20/10/2020 La Hồng L1 thi hành xong khoản tiền án phí 200.000 đồng. Ngày 04/5/2021 La Hồng L1 chấp hành xong thời gian thử thách của người được hưởng án treo.
Bị cáo La Hồng L1 bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 06/6/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Họ và tên: Đoàn Quang T4; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02 tháng 8 năm 1981; tại: huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đoàn Vũ H1, sinh năm 1959 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1958; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ là: Phạm Thị H2, sinh năm 1983; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Đoàn Quang T4 hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Trần Quang Đ1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05 tháng 5 năm 1981 tại: huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quang H3, sinh năm 1947; Con bà: Trần Thị B, sinh năm 1952; Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ là: Trần Thị H4, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Trần Quang Đ1 hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Ngô Thị H5; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 26 tháng 2 năm 1983; tại: huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Quang T5, sinh năm 1950 (đã chết); Con bà: Ninh Thị T6, sinh năm 1952; Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ năm; Chồng là: Tạ Thanh H6, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Ngô Thị Hiển H7 đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị A - Sinh năm 1967, Cư trú tại: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt;
Người làm chứng: 1. Bà Hoàng Thị T7 - Sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. 2. Chị Hoàng Thị Linh N - Sinh năm 1987; Địa chỉ: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; 3. Ông Vũ Huy T8 - Sinh năm 1947; Địa chỉ: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. 4. Anh Vũ Đức M - Sinh năm 1994; Địa chỉ: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; 5. Chị Nguyễn Thị H8 - Sinh năm 1986; Địa chỉ: Bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; 6. Bà Trần Thị X - Sinh năm 1960; Địa chỉ: Bản K, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; 7. Anh Bùi Đình M1 - Sinh năm 1986; Địa chỉ: Bản B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 10 phút ngày 29/05/2024, tổ công tác phòng C1 Công an tỉnh L phát hiện La Hồng L1 và Ngô Đình T1 đang thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề trái phép tại nhà riêng của T1. Kiểm tra dữ liệu trong chiếc điện thoại tạm giữ của T1 và của L1, xác định T1 và L1 bán số lô, số đề qua ứng dụng Zalo, T9 cho Hà Văn T. Ngày 06/6/2024 khởi tố Hà Văn T, Ngô Đình T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự. Khởi tố đối với bị cáo Trần Quang Đ1 và La Hồng L1 về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Mở rộng điều tra vụ án, ngày 17/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã khởi tố Đoàn Quang T4, đến ngày 24/8/2024 khởi tố bị cáo Ngô Thị H5 cùng về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận:
Đối với bị cáo Hà Văn T:
Khoảng giữa tháng 5/2024 T nảy sinh ý định tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề trái phép để kiếm lời. Ngày 15/5/2024, T đến nhà T1 bảo T1 bán số lô, số đề cho T vì biết T1 hiện đang làm thư ký mua số lô, số đề cho Công ty sổ xố kiến thiết Lào Cai. T1 đồng ý, từ ngày 19/05/2024 T1 nhắn tin để chuyển bán số lô, số đề cho T qua ứng dụng Telegram. Khoảng cuối tháng 5/2024, La Hồng L1 gọi điện thoại cho T nói hiện L1 đang gửi số lô, số đề cho Công ty X1 nhưng bị lỗ nhiều (do công ty trả thưởng rẻ), và hỏi T có nhận mua số lô, số đề của L1 không thì T đồng ý. T sử dụng số điện thoại 0928.442.xxx đăng ký tài khoản Telegram để nhắn tin mua số lô, số đề với T1 và L1. Tài thỏa thuận thống nhất việc mua bán số lô, số đề với T1 và L1 như sau: Hàng ngày sau khi nhận được số lô, số đề của T1 và L1 gửi qua T9 thì T đều nhắn lại với hình ảnh giơ ngón tay lên hoặc nhắn chữ “ok” (nghĩa là xác nhận đã mua tin số lô, số đề của T1 và L1). Sau khi có kết quả số lô, số đề theo kết quả mở thưởng hàng ngày của xổ số kiến thiết miền B thì T cùng T1, L1 cộng chốt số tiền thắng, thua với nhau và ngày hôm sau thanh toán tiền với nhau qua tài khoản số 8808205161222 ngân hàng A1 của T hoặc thanh toán tiền mặt với giá thắng, thua, mua số lô 01 điểm với giá 22.000 đồng. Nếu trúng số lô 01 điểm T trả 80.000 đồng (kết quả trúng lô so hai số cuối trong 27 giải và được nhân lên trúng nhiều nhất không quá ba lần). Số đề với giá 73 tức là đánh 10.000 đồng thì phải trả giá 7.300 đồng, nếu trúng đề thì được gấp 70 lần, tức 10.000 đồng được 700.000 đồng (trúng thưởng so với hai số cuối của giải đặc biệt, giải đặc biệt là giải được quay cuối cùng, vị trí giải đặc biệt ở trên cùng trong 27 giải). Số đề ba càng T ăn đủ, tức là đánh 10.000 đồng thì phải thanh toán với T giá 10.000 đồng và thống nhất với nhau số lô phải chuyển trước 18h10 phút hàng ngày, còn số đề phải chuyển trước 18h20 phút cùng ngày. Từ ngày 15/5/2024 đến ngày 29/5/2024 T đã nhận số tin nhắn mua bán số lô, số đề của T1 và L1 qua ứng dụng Telegram với tổng số tiền mua, bán và tiền trúng thưởng là 40.672.000 đồng. Trong đó T mua bán số lô, số đề của T1 với tổng số tiền mua, bán và tiền trúng thưởng là 39.452.000 đồng. Cụ thể: Ngày 15/5/2024 tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 24.888.000 đồng. Ngày 23/5/2024 tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 7.764.000 đồng. Ngày 28/5/2024 tổng số tiền mua bán số lô, số đề là 4.310.000 đồng. Ngày 29/5/2024 tổng số tiền Tài mua bán số lô, số đề với T1 là 2.490.000 đồng. Ngoài ra T mua bán số đề của La Hồng L1 với số tiền là 1.220.000 đồng.
Đối với bị cáo Ngô Đình T1:
Khoảng tháng 05/2024, khi T1 đang ở nhà thì có Hà Văn T đến gặp T1 đặt vấn đề về việc thu gom, nộp bảng số lô, số đề trái phép cho bị cáo T. Do được hưởng tiền hoa hồng chênh lệch cao hơn so với xổ số Nhà nước nên bị cáo T1 đã đồng ý. T thoả thuận với bị cáo T1: Đối với số lô tính giá 22.000 đồng/01 điểm lô, đối với số đề, số ba càng và lô xiên tính giá 73%/tổng số tiền cược (nghĩa là nếu đánh 100.000 đồng bị cáo T1 chỉ phải trả cho bị cáo T số tiền 73.000 đồng). Hình thức nhận, chuyển bảng số lô số đề sẽ gửi qua tin nhắn Telegram. Hàng ngày, sau khi mua bán số lô, số đề với khách, T1 sẽ tổng hợp viết ra giấy thành bảng lô đề rồi chụp ảnh gửi cho bị cáo T qua tin nhắn ứng dụng T9, bị cáo T1 sử dụng tài khoản tên "chobaoha123@gmail.com” đăng ký bằng số điện thoại “0336.347.xxx” để thực hiện hành vi bán số lô, số đề với T. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T1 thoả thuận với khách chơi: Đối với số đề tính giá 80%/tổng số tiền cược (Ví dụ khách đánh 100.000 đồng chỉ phải trả cho bị cáo số tiền 80.000 đồng); Đối với số ba càng, lô xiên tuỳ theo khách đánh ít thì tính 100%/tổng số tiền cược, khách đánh nhiều tính 90%/tổng số tiền cược; Đối với số lô tính giá 22.500đ/01 điểm lô. Sau khi có kết quả xổ số miền B1 mở quay thưởng vào 18 giờ 15 phút hàng ngày, các bị cáo sẽ so thưởng và tính số tiền thắng, thua rồi gửi tin nhắn thông báo. Từ ngày 15/5/2024 đến ngày 29/5/2024 T1 đã nhận số tin nhắn mua bán số lô, số đề của nhiều người rồi chuyển bảng số lô, số đề cho T với tổng số tiền mua, bán và tiền trúng thưởng là là 39.452.000 đồng. Cụ thể: Ngày 15/5/2024 T1 bán số lô cho bị cáo Trần Quang Đ1 với số tiền 1.125.000 đồng, tiền trúng thưởng 6.000.000 đồng. Ngoài bán số lô cho Đ1, T1 còn bán số lô, số đề cho người không quen biết trực tiếp đến nhà gặp T1 để mua số lô, số đề. Đến chiều ngày 15/5/2024 T1 chuyển cho T bảng số lô, số đề với tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng là: 24.888.000 đồng. Ngày 23/5/2024 T1 bán số lô, số đề cho nhiều người không quen biết trực tiếp đến nhà gặp T1 để mua số lô, số đề, đến chiều cùng ngày T1 chuyển số lô, số đề đã mua cho T với tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 7.764.000 đồng. Ngày 28/5/2024 T1 mua số lô, số đề của nhiều người không quen biết và chuyển cho T với tổng số tiền mua bán số lô, số đề là 4.310.000 đồng. Ngày 29/5/2024 T1 đang ở nhà thì có Vũ Huy T8 đến mua 60.000 đồng tiền số lô, số đề, ngoài ra có nhiều người không quen biết đến mua của số lô, số đề của T1, chiều cùng ngày T1 chuyển số lô, số đề đã mua cho T với tổng số tiền mua bán số lô, số đề với T ngày 29/5/2024 là 2.490.000 đồng. Đối với số tiền mua bán số lô, số đề với T, bị cáo T1 và bị cáo T chưa thanh toán tiền thắng thua với nhau nên bị cáo T1 chưa được hưởng lợi gì.
Đối với bị cáo La Hồng L1:
Đến giữa tháng 3/2024 khi L1 đang ở nhà thì có người phụ nữ tên T10 ở xã B, huyện B có Z “Thanh Tuyen” đến đặt vấn đề với L1 về việc làm thư ký bán số lô, số đề cho T10 và được L1 đồng ý, hàng ngày T10 trực tiếp đến nhà L1 nhận bảng và thanh toán tiền số lô, số với L1. Đến cuối tháng 5/2024 L1 gọi điện cho bị cáo Hà Văn T nhận làm thư ký bán số lô, số đề cho T để hưởng lợi phần trăm chênh lệch. Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2024 đến 29/5/2024 L1 đã bán số lô, số đề cho bị cáo Hà Văn T và người phụ nữ tên T10 với tổng số tiền là 67.105.000 đồng. Trong đó L1 bán số lô, số đề cho T10 với tổng số tiền là 65.885.000 đồng. Từ ngày 21/3/2024 đến ngày 29/5/2024 L1 đã nhận số tin nhắn mua bán số lô, số đề của nhiều người rồi nộp bảng số lô, số đề trực tiếp cho T10 với tổng số tiền mua, bán và tiền trúng thưởng là 65.885.000 đồng. Cụ thể các lần L1 chuyển số lô, số đề cho T10 và T như sau: Ngày 21/03/2024 L1 bán số lô cho bị cáo Đoàn Quang T4 với tổng số tiền mua bán số lô và tiền trúng thưởng là 3.950.000 đồng, đến chiều ngày 21/03/2024 T10 trực tiếp đến nhà L1 lấy bảng tổng hợp số lô, số đề. Ngày 31/3/2024 L1 bán số đề cho ông Bàn Tiến M2 số tiền là 171.000 đồng. Ngày 29/4/2024 L1 bán số lô, số đề cho chị Lự Thị Thanh H9 với tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 4.800.000 đồng. Đến chiều ngày 31/3/2024 T10 trực tiếp đến nhà L1 lấy bảng tổng hợp số lô, số đề. Ngày 30/4/2024 L1 bán số lô, số đề cho chị Lự Thị Thanh H9 với tổng số tiền 2.414.000 đồng. Ngày 24/5/2024 L1 bán số lô cho anh Nguyễn Hữu S1 với tổng số tiền là 450.000 đồng, bán số đề cho chị Nguyễn Thị H8 với tổng số tiền là 800.000 đồng, bán số lô, số đề cho bị cáo Đoàn Quang T4 với tổng số tiền là 3.050.000 đồng. Tổng số tiền L1 mua bán số lô, số đề chuyển cho Tuyền ngày 24/5/2024 là 4.300.000 đồng. Ngày 25/5/2024 L1 bán số đề cho chị Nguyễn Thị H8 với số tiền là 100.000 đồng, bán số lô, số đề cho bị cáo Đoàn Quang T4 với tổng số tiền số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 3.200.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô số đề và tiền trúng thưởng ngày 25/5/2024 chuyển cho T10 là 6.240.000 đồng. Ngày 26/5/2024 L1 bán số đề cho chị Nguyễn Thị H8 với số tiền 200.000 đồng, bán số lô và tiền trúng thưởng cho bị cáo Đoàn Quang T4 là 6.475.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng chuyển cho Tuyền ngày 26/5/2024 6.675.000 đồng. Ngày 27/5/2024 L1 bán số đề cho chị Nguyễn Thị H8 với tổng số tiền 220.000 đồng, bán số lô, số đề cho bị cáo Ngô Thị H5 với tổng số tiền số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 7.845.000 đồng, bán số lô cho bị cáo Đoàn Quang T4 với số tiền 2.700.000 đồng, bán số lô, số đề cho chị Hoàng Thị L2 Nhâm với tổng số tiền mua bán số lô số đề và tiền trúng thưởng là 2.355.000 đồng, bán số đề cho chị Trần Thị X với tổng số tiền 405.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng chuyển cho T10 ngày 27/5/2024 là 13.525.000 đồng. Ngày 28/5/2024 L2 bán số đề cho chị Nguyễn Thị H8 với số tiền là 360.000 đồng, bán số lô, số đề cho bị cáo Ngô Thị H5 với tổng số tiền mua bán số lô số đề và tiền trúng thưởng là 4.728.500 đồng, bán số lô, số đề cho bị cáo Đoàn Quang T4 với tổng số tiền mua bán số lô số đề và tiền trúng thưởng là 6.170.000 đồng, bán số lô, số đề cho chị Hoàng Thị L2 Nhâm với tổng số tiền mua bán số lô số đề và tiền trúng thưởng là 4.315.000 đồng, bán số lô, số đề cho chị Trần Thị X với tổng số tiền mua bán số lô số đề và tiền trúng thưởng là 1.795.000 đồng, bán số lô, số đề cho chị Hoàng Thị T7 với tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 1.390.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng ngày 28/5/2024 L2 chuyển cho T10 là 18.758.500 đồng. Ngày 29/5/2024, L2 bán số lô, số đề cho nhiều khách hàng, gồm: bán số lô, số đề, ba càng cho bị cáo Ngô Thị H5 với tổng số tiền là 3.546.500 đồng; bán số đề cho chị Nguyễn Thị H8 với tổng số tiền 190.000đ. Bán số lô, lô xiên, số đề cho chị Trần Thị X với tổng số tiền 1.041.000đ, bán số lô, số đề cho chị Hoàng Thị T7 với tổng số tiền là 225.000đ, bán số lô cho chị Hoàng Thị L2 Nhâm với tổng là 675.000đ, bán số lô cho bị cáo Đoàn Quang T4 với tổng số tiền 3.150.000 đồng, bán số lô, số đề cho anh Vũ Đức M với tổng số tiền là 1.225.000đ; bán số lô, số đề cho chị Trần Thị X với tổng số tiền là 745.000đ, bán số đề cho người phụ nữ tên T10 ở B với tổng số tiền là 260.000đ. Tổng số tiền L2 đã bán số lô, số đề cho 08 người chơi trong ngày 29/5/2024 là 10.571.500 đồng. Khi L2 đang chuyển cho bị cáo Hà Văn T 10 số đề với tổng số tiền là 1.220.000 đồng thì bị Phòng C1 Công an tỉnh L kiểm tra lập biên bản. Đối với các số lô, số đề còn lại chuyển cho T10 ở B bên lây trực tiếp thì bị Công an kiểm tra nên chưa kịp chuyển cho T10. Đối với bảng số lô số đề chuyển cho T10 từ ngày 21/3/2024 đến ngày 28/5/2024, L2 khai nhận đã thanh toán tiền bằng hình thức trực tiếp mỗi lần T10 đến nhà L2 nhận bảng số lô, số đề. Tuy nhiên do một số lần L2 chuyển bảng số lô, số đề cho T10 bị nhầm lẫn nên chưa được hưởng lợi gì. Ngày 29/5/2024 L2 chưa kịp thanh toán tiền với T và T10 thì bị tổ công tác Phòng hình sự Công an tỉnh L kiểm tra lập biên bản về hành vi mua bán số lô, số đề trái phép.
Đối với bị cáo Đoàn Quang T4:
Từ ngày 21/03/2024, 24/05/2024, 25/05/2024, 26/05/2024, 27/05/2024, 28/05/2024, 29/05/2024 bị cáo T4 đã sử dụng tài khoản Zalo tên “Tuấn Quang Đoàn” đăng ký bằng số điện thoại “0987.296.xxx” nhắn tin qua ứng dụng mạng xã hội zalo vào SĐT 0931.655.xxx của La Hồng L1 tài khoản có tên “L1” để mua bán số lô, số đề với tổng số tiền mua số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 31.635.000 đồng. Bị cáo L1 thoả thuận với bị cáo T4 tính giá 80%/tổng số tiền đánh cược đối với số đề (ví dụ, số tiền đánh cược là 10.000 đồng thì trả 8.000 đồng), tính giá 22.500đ/01 điểm lô. Việc thanh toán tiền thắng thua bằng hình thức trả tiền mặt. Ngày 21/3/2024 T4 mua số lô với tổng số tiền mua số lô và tiền trúng thưởng là 3.950.000 đồng; Ngày 24/5/2024 T4 mua số lô số đề với tổng số tiền là 3.050.000 đồng; Ngày 25/5/2024 T4 mua số lô số đề với tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 6.140.000 đồng; Ngày 26/5/2024 T4 mua số lô số đề với tổng số tiền mua số lô và tiền trúng thưởng là 4.000.000 đồng. Vậy, tổng số tiền mua bán số lô và tiền trúng thưởng là 6.475.000 đồng; Ngày 27/5/2024 T4 mua số lô với tổng số tiền 2.700.000 đồng; Ngày 28/5/2024 T4 mua số lô số đề với tổng số tiền là 6.170.000 đồng; Ngày 29/5/2024 T4 mua số lô với tổng số tiền là 3.150.000 đồng. Do ngày 29/5/2024, bị cáo L1 bị lực lượng Công an bắt về hành vi mua bán số lô, số đề trái phép nên không so thưởng tính tiền thắng thua. Đối với số tiền mua bán số lô, số đề với L1, những lần mua số lô số đề của L1, bị cáo T4 bị thua nên chưa được hưởng lợi gì.
Đối với bị cáo Ngô Thị H5:
Khoảng tháng 5/2024 H5 và L1 thỏa thuận, thống nhất: Hiện bán số lô, số đề mà H5 bán cho khách với giá 22.000đồng/01 điểm lô; số đề, L1 mua lại của H5 và tính 23% hoa hồng (tức là L1 mua số đề của H5 100.000 đồng thì H5 chỉ phải trả cho L1 77.000 đồng) và H5 nhận hình phạt chính: Đối với hành vi tổ chức đánh bạc, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự và đang là bị cáo trong 01 vụ án hình sự khác. Bị cáo La Hồng L1 có nhân thân xấu, bị cáo phạm tội tại Điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên. Bị cáo cáo 10% hoa hồng (tức là khách mua 100.000 đồng số đề thì bị cáo H5 hưởng lợi 10.000 đồng), được hưởng lợi 500 đồng/01 điểm lô. Từ ngày 27/5/2024 đến ngày 29/5/2024, H5 bán số lô, số đề cho nhiều người không quen biết trực tiếp đến nhà H5 mua số lô, số đề. Đến cuối ngày H5 nhắn tin bán số lô, số đề cho L1. Tổng số tiền H5 bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng từ ngày 27/5/2024 đến ngày 29/5/2024 là 16.120.000 đồng. Ngày 27/5/2024 H5 gửi tin nhắn bán số lô, số đề cho L1 với tổng số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 7.845.000 đồng; Ngày 28/5/2024 H5 chuyển tin nhắn số lô, số đề bán cho L1 với tổng số tiền mua bán số lô số đề và tiền trúng thưởng là 4.728.500 đồng; Ngày 29/5/2024 H5 bán số lô, số đề cho L1 với tổng số tiền là 3.546.500 đồng. Đối với số tiền mua bán số lô, số đề với L1, bị cáo H5 và bị cáo L1 chưa thanh toán tiền thắng thua với nhau nên bị cáo H5 chưa được hưởng lợi gì.
Đối với bị cáo Trần Quang Đ1:
Ngày 15/5/2024, bị cáo đến nhà bị cáo T1 để ghi mua 50 điểm số lô với số tiền là 1.125.000 đồng. Đến 19 giờ cùng ngày sau khi có kết quả xổ số miền B, bị cáo Đ1 trúng thưởng 75 điểm số lô được thưởng số tiền 6.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Đ1 mua bán số lô với bị cáo T1 và tiền trúng thưởng ngày 15/5/2024 là 7.125.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 22/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố các bị cáo Hà Văn T, Ngô đình T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo La Hồng L1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Ngô đình T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Bị cáo La Hồng L1 phạm phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
+ Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Hà Văn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322, điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Ngô Đình T1 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách 24 tháng đến 36 tháng, giao bị cáo cho UBND xã B giám sát, giáo dục.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo La Hồng L1 từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Đoàn Quang T4 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc".
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm điểm i, s, p khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Ngô Thị H5 từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã B giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Trần Quang Đ1 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 điều 322 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Hà Văn T, Ngô Đình T1 mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng tiền sung quỹ Nhà nước.
Tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố đối với các bị cáo, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Hà Văn T, Ngô Đình T1, La Hồng L1, Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5 và Trần Quang Đ1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Các biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh, sơ đồ hiện trường, sơ đồ bắt quả tang đối với các đối tượng; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản kiểm tra đồ vật, tài sản; Lệnh nhập kho, xuất kho vật chứng; Bản tự khai, biên bản ghi lời khai của bị cáo; Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng. Bản kết luận điều tra số 20, ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B. Bản cáo trạng số 21/CT-VKSBY ngày 22/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: từ 15/5/2024 đến 29/5/2024 bị cáo T đã đặt vấn đề tổ chức đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề ăn thua trực tiếp với bị cáo Ngô Đình T1 với tổng số tiền là: 39.452.000 đồng, trong đó có ngày 15/5/2024 bị cáo T1 chuyển bảng số lô, số đề cho bị cáo T là 24.888.000 đồng; Ngoài ra ngày 29/5/2024 bị cáo T đã đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề ăn thua trực tiếp với bị cáo L1 với số tiền là 1.220.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Hà Văn T và Ngô Đình T1 đã cấu thành tội “Tổ chức Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo La Hồng L1 từ ngày 21/3/2024 đến ngày 29/5/2024 bị cáo đã đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề với tổng số tiền mua, bán số lô, số đề với các bị cáo Hà Văn T, Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5 và nhiều người không quen biết với tổng số tiền là 65.885.000 đồng, trong đó có 05 lần số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng gồm các ngày 25/5/2024 là 6.240.000 đồng, ngày 26/5/2024 là 6.675.000 đồng, ngày 27/5/2024 là 7.845.000 đồng, ngày 28/5/2024 là 18.758.500 đồng, ngày 29/5/2024 là 10.571.500 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo La Hồng L1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự
Bị cáo Đoàn Quang T4 từ ngày 21/03/2024 đến ngày 29/05/2024 đã đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của bị cáo La Hồng L1 với tổng số tiền mua số lô, số đề và tiền trúng thưởng là 31.635.000 đồng. Trong đó có 03 lần có số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng gồm các ngày 25/5/2024 là 6.140.000 đồng, ngày 26/5/2024 là 6.475.000 đồng, ngày 28/5/2024 là 6.170.000 đồng. Bị cáo Ngô Thị H5 từ ngày 27/5/2024 đến ngày 29/5/2024 đã đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với bị cáo La Hồng L1 với tổng số tiền 16.120.000 đồng. Bị cáo Trần Quang Đ1 ngày 15/5/2024 đã đánh bạc dưới hình thức mua số lô với bị cáo Ngô Đình T1 với tổng số tiền là 7.125.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố các bị cáo Hà Văn T, Ngô Đình T1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo La Hồng L1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nhà nước. Các bị cáo biết rõ nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi đánh bạc nhưng vì ham lợi nên các bị cáo đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng và gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử lý các bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật.
[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước mà cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Hà Văn T là người trực tiếp khởi sướng việc mua số lô, số đề với bị cáo Ngô Đình T1 nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án đối với hành vi tổ chức đánh bạc, bị cáo Ngô Đình T1 là người trực tiếp mua số lô, số đề rồi tổng hợp nộp bảng số lô, số đề cho bị cáo T với số tiền trong một lần nộp là hơn 20.000.000 đồng, nên bị cáo T1 phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò người thực hành của tội tổ chức đánh bạc. Đối với các bị cáo La Hồng L1, Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 tham gia đánh bạc với mục đích để được thua bằng tiền nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò người thực hành.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo La Hồng L1 có 05 lần đánh bạc với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, bị cáo Đoàn Quang T4 có 03 lần đánh bạc với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên. Do đó, bị cáo La Hồng L1 và Đoàn Quang T4 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 2 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Hà Văn T, Ngô Đình T1, La Hồng L1, Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 đều có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo. Bị cáo Hà Văn T đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo Ngô Đình T1 năm 2019 đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Lào Cai xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững” được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng Bằng khen; Bị cáo La Hồng L1 là lao động chính trong gia đình, bị cáo được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã P xác nhận có tham gia hoạt động thiện nguyện nấu cơm cho chiến sỹ bộ đội tìm kiếm các nạn nhân tại Làng L, bị cáo có bố đẻ là La Văn C được tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục; Bị cáo Đoàn Quang T4 có ông nội là ông Đoàn Vũ T11 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì và hạng ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Bị cáo Ngô Thị H5 và bị cáo Trần Quang Đ1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài ra bản thân bị cáo H5 là người khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, bị cáo có bố đẻ là Ngô Quang T5 được tặng thưởng huy chương kháng chiến.
[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo Hà Văn T phải chịu trách nhiệm chính đối với hành vi tổ chức đánh bạc, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự và đang là bị cáo trong 01 vụ án hình sự khác. Bị cáo La Hồng L1 có nhân thân xấu, bị cáo phạm tội tại Điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội hai lần trở lên. Bị cáo cáo Đoàn Quang T4 cũng có 01 tình tiết tặng nặng là là phạm tội hai lần trở lên nên cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo đã thực hiện. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với các bị cáo Ngô Đình T1, Trần Quang Đ1 và Ngô Thị H5 đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo Trần Quang Đ1 và Ngô Thị H5 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có đủ các điều kiện được hưởng án treo và không thuộc các trường hợp không được hưởng án treo. Vì vậy cần giảm nhẹ cho các bị cáo một mức hình phạt và không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà giao các bị cáo cho gia đình kết hợp cùng với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục các bị cáo là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 và khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền ....". Song xét thấy điều kiện kinh tế của các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai về Điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo Hà Văn T, La Hồng L1 và Trần Quang Đ1 là phù hợp. Tuy nhiên về mức hình phạt đối với các bị cáo: Ngô Đình T1, Đoàn Quang T4 và Ngô Thị H5, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều tham gia với vai trò đồng phạm, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc thấp, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo so với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[8] Về vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A14 tạm giữ của Ngô Thị H5; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs tạm giữ của Đoàn Quang T4; 01 điện thoại di động OPPO F11 của Ngô Đình T1 giao nộp; 01 (một) điện thoại di động Oppo A77s của bị cáo La Hồng L1; 01 (một) điện thoại Oppo F11của La Hồng L1; 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio màu xám. Đây là những vật chứng của vụ án các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) quyển số bên trong có ghi nhiều con số và chữ. 01 (Một) bút bi nhãn hiệu thiên long màu đỏ cũ đã qua sử dụng; 02 (Hai) bút bi nhãn hiệu thiên long màu xanh cũ đã qua sử dụng; 22 (Hai mươi hai) tờ giấy than màu đen kích thước 8x10 cm đã qua sử dụng; 01 (Một) cáp tập xổ số lô tô Lào Cai (Chưa sử dụng) có số Seri từ 098500 đến 098599; 01 (Một) tập cáp xổ số lô tô Lào Cai (Chưa sử dụng) có số Seri từ 098400 đến 098499; 01 (Một) tập cáp xổ số lô tô Lào Cai (Chưa sử dụng) có số Seri từ 098900 đến 098999; 01 (Một) tập cáp xổ số lô tô Lào Cai (Chưa sử dụng) có số Seri từ 098600 đến 098699; 01 (Một) tập cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098300 đến 098399; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098800 đến 098899; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098800 đến 098899; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098000 đến 098099; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098200 đến 098299; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098701 đến 098799; 01 (Một) tập cáp ghi đề (Chưa sử dụng) kích thước 7 x 10 cm. Bên ngoài có bìa mầu nâu, bên trong có cáp ghi đề màu trắng; 01 (Một) tập cáp ghi đề (Đã sử dụng) kích thước 7 x 10 cm. Bên ngoài có bìa mầu nâu, bên trong có cáp ghi đề màu trắng có viết số lô, số đề (Gồm 08 tờ); 17 (Mười bẩy) cáp ghi đề xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 071758 đến 071771; 01 (Một) cáp ghi xổ số lô tô Lào Cai đã quá sử dụng có số Seri 015904; 01 (Một) tờ giấy A4 bên trên có ghi nhiều con số khác nhau bằng mực màu xanh; 01 (Một) tờ giấy A4 đã bị xé làm đôi, bên trên có ghi nhiều con số khác nhau bằng mực màu xanh và màu đỏ; 01 (một) quyển sổ ô ly nhỏ (Đã qua sử dụng) bên trên có ghi những con số khác nhau có kích thước 8 x12 cm; 04(Bốn) cáp đề (Đã qua sử dụng) có kích thước 7 x 10 cm, nền màu trắng, bên trong tờ cáp có ghi “XSMB->8012”. Bên trên có ghi những con số, chữ khác nhau.
Trả lại cho Hà Văn T 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, số Imei 1: 062177051170556, Imei 2: 862177051170549 bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0869.285.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng;
Trả lại cho bị cáo Ngô Đình T1 và người liên quan bà Phạm Thị A số tiền 288.400.000 đồng (Hai trăm tám mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì Phòng C1 Công an tỉnh L mặt trước ghi "Số tiền Ngô Đình T1 bị tạm giữ trong két sắt sau khi được kiểm tra ngày 14/4/2024". Và số tiền 23.650.000 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì Phòng C1 Công an tỉnh L mặt trước ghi “Đồ vật, tài sản tài liệu tạm giữ khi khám xét nơi ở của Ngô Đình T1 và đồ vật, tài sản tài liệu do Ngô Đình T1 giao nộp trước khi khám xét ngày 29/5/2024" mặt sau có chữ ký của những người tham gia. Trả lại cho bị cáo La Hồng L1 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì Phòng C1 Công an tỉnh L đã được niêm phong mặt trước ghi "Tiền tạm giữ của La Hồng L1 ngày 29/5/2024" mặt sau có chữ ký của những người tham gia được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện B.
Trả lại cho bà Phạm Thị A: 01 (một) điện thoại di động OPPO A58, màu xanh, Imei 1: 865039063233516, số Imei 2: 865039063233508, trong máy lắp 02 (Hai) sim nhà mạng Viettel, máy cũ đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên ngày 22/10/2024. Và Biên bản giao nhận tài sản số 99/2024/BBGN-KBBY ngày 28/08/2024 giữa Công an huyện B và Kho bạc nhà nước B.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hà Văn T, Ngô Đình T1, La Hồng L1, Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Ngô Đình T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo La Hồng L1; Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 phạm tội “Đánh bạc”.
[2] Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn T 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo 31/5/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s, v khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Đình T1 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo La Hồng L1 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Khấu trừ cho bị cáo thời hạn tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 06/6/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Quang T4 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s, i, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thị H5 07 (Bẩy) tháng tù. Cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm 02 (Hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang Đ1 06 (Sáu) tháng tù. Cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Ngô Đình T1, Ngô Thị H5 và Trần Quang Đ1 cho Ủy ban nhân dân xã B giám sát, giáo dục đối với các bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
[3] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A14, màu tím nhạt, số Imei 1: 357865262404036, số Imei 2: 358164362404032, gắn 01 thẻ sim nhà mạng Viettel số 0363.630.xxx tạm giữ của Ngô Thị H5; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu trắng, số I: 57255091864289, bên trong có lắp 01 (một) sim điện thoại tạm giữ của Đoàn Quang T4; 01 (một) điện thoại di động OPPO F11 màu tím, số imei 1: 869711048731436, trong máy có lắp 01 sim điện thoại của nhà mạng Viettell, trên sim có dãy số 8984048000005074115 của Ngô Đình T1 giao nộp; 01 (một) điện thoại di động Oppo A77s, màu đen, số Imei 1: 866996061233450, Imei 2: 866996061233443, điện thoại lắp 02 (Hai) thẻ sim của bị cáo La Hồng L1; 01 (một) điện thoại Oppo F11, màu xanh, bị vỡ kính màn hình, số Imei 1: 869874944291274, số Imei 2: 869874044291266 của bị cáo La Hồng L1; 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio cũ đã qua sử dụng;
Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) quyển số bên trong có ghi nhiều con số và chữ. 01 (Một) bút bi nhãn hiệu thiên long màu đỏ cũ đã qua sử dụng; 02 (Hai) bút bi nhãn hiệu thiên long màu xanh cũ đã qua sử dụng; 22 (Hai mươi hai) tờ giấy than màu đen kích thước 8x10 cm đã qua sử dụng; 01 (Một) cáp tập xổ số lô tô Lào Cai (Chưa sử dụng) có số Seri từ 098500 đến 098599; 01 (Một) tập cáp xổ số lô tô Lào Cai (Chưa sử dụng) có số Seri từ 098400 đến 098499; 01 (Một) tập cáp xổ số lô tô Lào Cai (Chưa sử dụng) có số Seri từ 098900 đến 098999; 01 (Một) tập cáp xổ số lô tô Lào Cai (Chưa sử dụng) có số Seri từ 098600 đến 098699; 01 (Một) tập cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098300 đến 098399; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098800 đến 098899; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098800 đến 098899; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098000 đến 098099; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098200 đến 098299; 01 (Một) tập cuống cáp xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 098701 đến 098799; 01 (Một) tập cáp ghi đề (Chưa sử dụng) kích thước 7 x 10 cm. Bên ngoài có bìa mầu nâu, bên trong có cáp ghi đề màu trắng; 01 (Một) tập cáp ghi đề (Đã sử dụng) kích thước 7 x 10 cm. Bên ngoài có bìa mầu nâu, bên trong có cáp ghi đề màu trắng có viết số lô, số đề (Gồm 08 tờ); 17 (Mười bẩy) cáp ghi đề xổ số lô tô Lào Cai (Đã sử dụng) có số Seri từ 071758 đến 071771; 01 (Một) cáp ghi xổ số lô tô Lào Cai đã quá sử dụng có số Seri 015904; 01 (Một) tờ giấy A4 bên trên có ghi nhiều con số khác nhau bằng mực màu xanh; 01 (Một) tờ giấy A4 đã bị xé làm đôi, bên trên có ghi nhiều con số khác nhau bằng mực màu xanh và màu đỏ; 01 (một) quyển sổ ô ly nhỏ (Đã qua sử dụng) bên trên có ghi những con số khác nhau có kích thước 8 x12 cm; 04(Bốn) cáp đề (Đã qua sử dụng) có kích thước 7 x 10 cm, nền màu trắng, bên trong tờ cáp có ghi “XSMB->8012”. Bên trên có ghi những con số, chữ khác nhau. Đây là những vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho Hà Văn T 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, số Imei 1: 062177051170556, Imei 2: 862177051170549 bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0869.285.xxx, điện thoại cũ đã qua sử dụng;
Trả lại cho bị cáo Ngô Đình T1 và người liên quan bà Phạm Thị A số tiền 288.400.000 đồng (Hai trăm tám mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì Phòng C1 Công an tỉnh L mặt trước ghi "Số tiền Ngô Đình T1 bị tạm giữ trong két sắt sau khi được kiểm tra ngày 14/4/2024". Và số tiền 23.650.000 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì Phòng C1 Công an tỉnh L mặt trước ghi “Đồ vật, tài sản tài liệu tạm giữ khi khám xét nơi ở của Ngô Đình T1 và đồ vật, tài sản tài liệu do Ngô Đình T1 giao nộp trước khi khám xét ngày 29/5/2024" mặt sau có chữ ký của những người tham gia. Trả lại cho bị cáo La Hồng L1 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì Phòng C1 Công an tỉnh L đã được niêm phong mặt trước ghi "Tiền tạm giữ của La Hồng L1 ngày 29/5/2024" mặt sau có chữ ký của những người tham gia được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện B.
Trả lại cho bà Phạm Thị A: 01 (một) điện thoại di động OPPO A58, màu xanh, Imei 1: 865039063233516, số Imei 2: 865039063233508, trong máy lắp 02 (Hai) sim nhà mạng Viettel, máy cũ đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên ngày 22/10/2024. Và Biên bản giao nhận tài sản số 99/2024/BBGN-KBBY ngày 28/08/2024 giữa Công an huyện B và Kho bạc nhà nước B.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hà Văn T, Ngô Đình T1, La Hồng L1, Đoàn Quang T4, Ngô Thị H5, Trần Quang Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Thắng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Dương Quý Sáng |
Đinh Thị Út |
Nguyễn Mạnh Thắng |
Bản án số 21/2024/HS - ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 21/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn Tài, Ngô Đình Thủy phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo La Hồng Linh; Đoàn Quang Tuấn, Ngô Thị Hiển, Trần Quang Đạt phạm tội “Đánh bạc”.
