Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 16-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thụ.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lâm;

  • Bà Nông Thị Vân.

  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Vinh Thịnh, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng tổ chức xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST - HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Kim L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 17/12/1988 tại: thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông. Họ và tên cha: Hoàng Kim C; H và tên mẹ: Đàm Thục A (đều đã chết); A, chị, em ruột: Gia đình có 5 chị em, bị cáo là con út. Vợ: Lưu Thị T, sinh năm 1988; trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: có 01 con, sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 30/6/2024 đến 05/9/2024. Ngày 06/9/2024 được thay thế biện pháp Bảo lĩnh. Ngày 26/11/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại tòa.

2. Họ và tên: Đinh Phúc Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 05/8/1993 tại: huyện N, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Nơi ở hiện nay: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên Phòng Kế hoạch vật tư, Công ty Cổ phần G; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Là đảng viên Đ1; (Đã có Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 84-QĐ/UBKTTU ngày 05/7/2024 của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh C); Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông. Họ và tên cha: Đinh Văn H1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Vũ Thị L1, sinh năm 1961, trú tại: thị trấn Đ, T, Cao Bằng. Anh chị em ruột: Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con út trong gia đình. Vợ: Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1992; trú tại: Tổ A, phường S, thành phố C; Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 30/6/2024 đến 01/10/2024. Ngày 02/10/2024 được thay thế biện pháp Bảo lĩnh, đến ngày 26/11/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

3. Họ và tên: Hoàng Thu H3; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 13/4/1978 tại: thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nơi ở hiện tại: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Là đảng viên Đ1 (đã có Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 113-QĐ/UBKTTU ngày 26/11/2024 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy thành phố C); Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông. Họ và tên cha: Hoàng Kim C; H và tên mẹ: Đàm Thục A, đều đã chết; A, chị, em ruột: Gia đình có 5 chị em, bị can là con thứ 3 trong gia đình. Chồng: Nguyễn Minh C1, sinh năm 1978; trú tại: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: Bị cáo có 02 con, con đầu sinh năm 2002; con thứ hai sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/11/2024 đến nay, có mặt.

4. Họ và tên: Nguyễn Thị Bích L2; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 06/3/1987 tại: huyện T, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông. Họ và tên cha: Nguyễn Xuân H4, sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Đinh Thị Ả, sinh năm 1957; cùng trú tại: Tổ C, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con út trong gia đình. Chồng: Nông Văn Q, sinh năm 1984; trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: Bị cáo có 02 con, con đầu sinh năm 2009; con thứ hai sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/11/2024 đến nay, có mặt.

5. Họ và tên: Lê Ngọc Q1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01/8/1981 tại: huyện B, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông. Họ và tên cha: Lê Văn Q2, sinh năm 1961; Họ và tên mẹ: Nông Thị L3, sinh năm 1963; cùng trú tại: Tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình. Vợ: Đàm Thị Thúy B, sinh năm 1983 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con, con đầu sinh năm 2009; con thứ hai sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/11/2024 đến nay, có mặt.

6. Họ và tên: Nguyễn Ánh Tuyết N; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 31/10/1958 tại: thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 10/10 phổ thông. Họ và tên cha: Nguyễn Văn L4 (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị C2, sinh năm 1935; trú tại: phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Chồng: Trịnh Hữu C3, sinh năm 1955; trú tại: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: Bị cáo có 02 con, con đầu sinh năm 1984; con thứ hai sinh năm 1986.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/11/2024 đến nay, có mặt.

Người làm chứng:

  1. Phạm Thu H2, sinh năm 1992, T1 tại: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, (có mặt);

  2. Nông Văn Q, sinh năm 1984, T1 tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, (có đơn xin xét xử vắng mặt);

  3. Trần Quang T2, sinh năm 1964, T1 tại: Tổ C, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua công tác chuyên môn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C phát hiện Hoàng Kim L (Sinh năm 1988; trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) là chủ hộ kinh doanh: Hoàng Kim L, mã số thuế: 4800446739, hoạt động kinh doanh bán lẻ, lắp đặt sửa chữa hàng điện tử, điện lạnh... có cửa hàng tại: Tổ A, phường T, thành phố C và Nguyễn Ánh Tuyết N (Sinh năm 1958; trú tại: tổ A, phường H, thành phố C) là chủ hộ kinh doanh: Nguyễn Ánh Tuyết N, mã số thuế: 4800124139, địa chỉ đăng ký kinh doanh tại: Tổ A phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng có dấu hiệu mua bán trái phép hoá đơn.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã tiến hành xác minh, xác định Hoàng Kim L có hai tài khoản ngân hàng gồm: Tài khoản số 8300205205100 mở tại Agibank tỉnh C và tài khoản số 33010000023853 mở tại BIDV tỉnh C. Qua kiểm tra lịch sử giao dịch hai tài khoản này có nhiều khoản tiền được chuyển đến từ Công ty cổ phần G sau đó được chuyển lại vào tài khoản số: 33010000337721 của Đinh Phúc Đ (Sinh năm 1993; trú tại: Tổ A, phường S, thành phố C, là nhân viên Phòng Kế hoạch vật tư, Công ty Cổ phần G). Cụ thể từ ngày 11/9/2020 đến ngày 08/11/2022, Công ty cổ phần G đã thực hiện 23 giao dịch thanh toán cho L qua hai số tài khoản nêu trên với tổng số tiền là: 3.586.343.701₫ (Ba tỷ năm trăm tám mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn bẩy trăm linh một đồng). Sau khi nhận được tiền thanh toán, L đã thực hiện 25 giao dịch chuyển lại tiền cho Đ với tổng số tiền là: 3.256.414.000đ (Ba tỷ hai trăm năm mươi sáu triệu bốn trăm mười bốn nghìn đồng). Từ những dấu hiệu vi phạm nêu trên, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Công ty cổ phần G cung cấp chứng từ liên quan. Kiểm tra, đối chiếu xác định Công ty cổ phần G đã sử dụng 62 số hoá đơn của L để thanh toán tổng số tiền 3.586.343.701đ cho L.

Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định được như sau:

Từ khoảng năm 2019, Đ được Công ty cổ phần G giao nhiệm vụ thực hiện mua sắm vật tư, trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh. Đ thực hiện mua vật tư, trang thiết bị với nhiều công ty, cửa hàng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên, có một số mặt hàng khi thực hiện mua sắm không có hoá đơn để thanh toán nên Đ đã nhờ L và N xuất hoá đơn. Đ sử dụng hoá đơn của L và N và làm các thủ tục giấy tờ như: Hợp đồng mua bán, thanh lý hợp đồng (biên bản nghiệm thu, giao nhận hàng hoá)...để thanh toán với Công ty cổ phần G.

Đối với Hoàng Kim L: L tính tiền các hoá đơn đã xuất cho Đ tương ứng với 5% giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn, kể cả lấy hàng hoá hay không lấy hàng hoá. Tiền hoá đơn Đ trả cho L bằng tiền mặt ngay khi L thực hiện xuất hoá đơn hoặc sau khi Công ty cổ phần G chuyển tiền thì L trừ tiền hoá đơn cùng với tiền hàng hoá Đ lấy thực tế rồi chuyển phần tiền còn lại cho Đ. Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định L đã bán 62 số hoá đơn cho Đ và thu tiền hoá đơn tương ứng với 5% giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn trên tổng số tiền ghi trên hoá đơn, nếu chỉ lấy hàng hoá không lấy hoá đơn thì được giảm 5% tiền hoá đơn. Như vậy, căn cứ theo số tiền L chuyển lại cho Đ thì L đã thu được số tiền là: 3.256.414.000 đồng x 5% = 162.820.700 đồng. Trong tổng số 62 hoá đơn L đã xuất cho Đ có 24 số hoá đơn L ghi số tiền trên liên 1 (để kê khai nộp thuế) thấp hơn số tiền ghi trên liên 2 (giao cho khách hàng) nên doanh thu kê khai nộp thuế của L tại 62 số hoá đơn là: 1.909.402.049 đồng với thuế suất là: 1,5%, có số tiền là: 1.909.402.049 đồng x 1,5% = 28.641.031 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L khi bán hoá đơn cho Đ là: 162.820.700 đồng - 28.641.031 đồng = 134.179.669 đồng.

Đối với Nguyễn Ánh Tuyết N: Từ năm 2020 – 2022, Đ mua hàng hoá, vật tư với N số lượng nhỏ lẻ. Đến kỳ thanh toán, Đ lập hợp đồng, biên bản giao nhận hàng hoá, bảng kê hàng hoá... giữa Công ty cổ phần G với N, số lượng mặt hàng ghi trên hợp đồng nhiều hơn số lượng hàng hoá Đ lấy trước đó (do ghi thêm số lượng hàng hoá trên hoá đơn). Số lượng hoá đơn N xuất cho Công ty cổ phần G là 10 hoá đơn có tổng giá trị là 977.194.988đ (Chín trăm bảy mươi bảy triệu một trăm chín mươi tư nghìn chín trăm tám mươi tám đồng). N tính tiền các hoá đơn xuất cho Đ tương ứng với 5% giá trị hàng hoá ghi thêm. Số tiền N chuyển lại cho Đ là 504.000.000 đồng (Năm trăm linh tư triệu đồng). Qua đối chiếu các khoản tiền đã thanh toán, đã chuyển lại trên tài khoản ngân hàng của N xác định số tiền N đã thu tiền hoá đơn trên tổng số tiền ghi thêm là: 26.526.315 đồng. Trong đó, N đã kê khai nộp thuế 1,5% giá trị hàng hoá ghi thêm tương ứng với số tiền là: 7.957.895 đồng, thu lợi bất chính 3,5% giá trị hàng hoá ghi thêm tương ứng với số tiền là: 18.568.420 đồng.

Ngoài ra, Hoàng Kim L còn bán hoá đơn cho 03 cá nhân khác gồm:

1. Hoàng Thu H3 (Sinh năm: 1978, trú tại: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng)

Hoàng Thu H3 là giám đốc điều hành Công ty TNHH G có địa chỉ: Tổ G, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty H8 đã bán 01 số hoá đơn cho Trần Quang T2 (trú tại: Tổ C, phường S, thành phố C) là Giám đốc Công ty TNHH Đ2. Cụ thể Hoàng Thu H3 đã bán hoá đơn số 0000057 ngày 09/12/2022 cho Trần Quang T2, thu lợi bất chính số tiền là: 3.400.000đ (ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Ngoài ra H3 còn mua một số hàng hoá để bán nhưng không có hoá đơn nên đã nhờ Hoàng Kim L xuất hoá đơn để bán hàng hoá cho các cơ quan, doanh nghiệp. Qua đối chiếu tài khoản ngân hàng thấy các cơ quan, doanh nghiệp chuyển tiền cho L rồi L chuyển lại tiền cho H3, thu thập hoá đơn đầu ra của L cho các cơ quan, doanh nghiệp xác định H3 đã mua 16 số hoá đơn với L.

Tổng số tiền các cơ quan, doanh nghiệp đã thanh toán qua H5 kinh doanh Hoàng Kim L cho hàng hoá của H3 là: 710.092.143₫ (Bảy trăm mười triệu không trăm chín mươi hai nghìn một trăm bốn mươi ba đồng). H3 khai nhận đã sử dụng tiền cá nhân mua một số mặt hàng không có hoá đơn, chứng từ rồi nhờ L xuất hoá đơn để bán và thanh toán tiền với các cơ quan, doanh nghiệp. Sau khi các đơn vị thanh toán tiền cho L theo hoá đơn thì L chuyển lại tiền được thanh toán cho H3 qua tài khoản ngân hàng. H3 trả tiền hoá đơn cho L tương ứng với 2,5% giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn. Tổng số tiền L đã thu được khi bán hoá đơn cho H3 là: 710.092.143 đồng x 2,5% = 17.747.791 đồng. Trong đó, L đã kê khai nộp thuế, thuế suất 1,5% đối với 229.732.450 đồng (do có hoá đơn liên 1 ghi giảm giá trị hàng hoá) có số tiền là: 3.445.987 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: 14.301.804 đồng.

2. Lê Ngọc Q1 (Sinh năm 1981, trú tại: Tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng)

Từ năm 2019 đến năm 2022, Q1 được một số cơ quan thuê bảo dưỡng, sửa chữa điều hoà nhiệt độ, thiết bị điện. Tuy nhiên, Q1 không đăng ký kinh doanh, không sử dụng hoá đơn nên đã nhờ Hoàng Kim L xuất hoá đơn và sử dụng hoá đơn của L để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ với các cơ quan.

Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định Q1 đã mua với L 11 số hoá đơn với tổng số tiền ghi trên hoá đơn là: 159.829.280đ (Một trăm năm mươi chín triệu tám trăm hai mươi chín nghìn hai trăm tám mươi đồng) để thanh toán tiền với các cơ quan: Sở Nội vụ tỉnh C, Ban Q3 công trình giao thông tỉnh Cao Bằng, Trường trung học phổ thông thành phố C, Cục thống kê tỉnh C, Văn phòng UBND tỉnh C, Thành uỷ Thành phố C, Sở y tế tỉnh C. Sau khi các cơ quan, đơn vị thanh toán tiền theo hoá đơn đến tài khoản của L thì L giữ lại số tiền % bán hoá đơn rồi chuyển số tiền còn lại cho Q1 với tổng số tiền là: 148.485.000đ (Một trăm bốn mươi tám triệu bốn trăm tám mươi năm nghìn đồng). Quyết trả tiền hoá đơn cho L tương ứng từ 5% trở lên đối với giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn. Đối chiếu số tiền các cơ quan đã thanh toán và số tiền L chuyển lại cho Q1 xác định L đã thu được số tiền khi bán hoá đơn là: 11.344.280 đồng, trong đó kê khai nộp thuế, thuế suất 1,5% với số tiền là: 2.397.439 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: 8.946.841 đồng.

3. Nguyễn Thị Bích L2 (Sinh năm 1987, trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng)

Từ năm 2019 đến năm 2022, L2 được một số cơ quan thuê bảo dưỡng, sửa chữa điều hoà nhiệt độ, thiết bị điện.... Do L2 không đăng ký kinh doanh nên khi các cơ quan yêu cầu xuất hoá đơn để thanh toán tiền thì L2 đã mua hoá đơn với Hoàng Kim L. Các tài liệu thu thập được xác định L2 đã mua 15 số hoá đơn với L, tổng số tiền ghi trên hoá đơn là: 149.356.090đ (Một trăm bốn mươi chín triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn không trăm chín mươi đồng) để thanh toán tiền với các cơ quan, đơn vị gồm: Chi cục trồng trọt và chăn nuôi tỉnh Cao Bằng, Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng, Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh C, Cục quản lý thị trường tỉnh C, Văn phòng T5, Ban quản lý các di tích quốc gia đặc biệt tỉnh Cao Bằng, Đảng uỷ khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh C. Sau khi các cơ quan, đơn vị thanh toán tiền theo hoá đơn đến tài khoản của L thì L giữ lại số tiền % bán hoá đơn rồi chuyển số tiền còn lại là: 139.463.000đ (Một trăm ba mươi chín triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng). L2 trả tiền hoá đơn cho L tương ứng với 5-8% giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn. Đối chiếu số tiền các cơ quan đã thanh toán và số tiền L chuyển lại cho L2 xác định L đã thu được số tiền bán hoá đơn là: 9.893.090 đồng, trong đó đã kê khai nộp thuế, thuế suất 1,5% với số tiền là: 2.240.341 đồng, thu lợi bất chính số tiền là: 7.652.749 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Hoàng Kim L, Đinh Phúc Đ, Hoàng Thu H3, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Ánh Tuyết N, Nguyễn Thị Bích L2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C truy cứu trách nhiệm hình sự Hoàng Kim L về Tội mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 BLHS; Đinh Phúc Đ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 BLHS; các bị cáo Hoàng Thu H3, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Ánh Tuyết N, Nguyễn Thị Bích L2 quy định tại khoản 1 Điều 203 BLHS.

Tại cáo trạng số 107/CT-VKSCB-P1 ngày 19 tháng 11 năm 2024 đã truy tố Hoàng Kim L về tội Mua bán trái phép hóa đơn theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Hình sự; Truy tố Đinh Phúc Đ về tội Mua bán trái phép hóa đơn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Hình sự; Truy tố Hoàng Thu H3, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Ánh Tuyết N, Nguyễn Thị Bích L2 về tội Mua bán trái phép hóa đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhận định hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép hóa đơn .

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì bị cáo là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; tại cơ quan điều tra và tại tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo Hoàng Kim L, Nguyễn Ánh Tuyết N, Hoàng Thu H3 đã nộp số tiền thu lợi bất chính tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng để khắc phục hậu quả. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Kim L từ 220 triệu đến 250 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Đinh Phúc Đ từ 200 triệu đến 220 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Thu H3 từ 50 triệu đến 60 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Bích L2 từ 50 triệu đến 60 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Ngọc Q1 từ 50 triệu đến 60 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Ánh Tuyết N từ 50 triệu đến 60 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Không áp dụng hình phạt bổ sung.

-Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • -Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) case máy tính tạm giữ tại nơi làm việc của Hoàng Kim L; 01 (một) case máy tính tạm giữ tại nơi làm việc của Đinh Phúc Đ là phương tiện phạm tội;

  • Tịch thu số tiền 171.968.420đ là tiền các bị cáo thu lợi bất chính mà có để nộp Ngân sách Nhà nước (các bị cáo L, H3, N đã nộp tại Cục THADS tỉnh C)

  • Tiếp tục truy thu số tiền 15.081.063 của bị cáo L thu lợi bất chính để nộp ngân sách nhà nước.

  • - Về án phí: Các bị cáo L, Đ, H3, Q1, L2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo N là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền mức thấp theo đề nghị phạt của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị tại phiên tòa phù hợp với Bản tự khai, biên bản ghi lời khai; lời khai của người làm chứng tại tòa và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ căn cứ chứng minh:

Trong khoảng thời gian từ năm 2020 - 2022, Hoàng Kim L và một số cá nhân khác trên địa bàn thành phố C do muốn thu lợi bất chính hoặc khi mua bán hàng hóa không có hóa đơn để thanh toán, không đăng ký kinh doanh, không sử dụng hoá đơn nên đã có hành vi mua bán trái phép hóa đơn. Cụ thể như sau:

Hoàng Kim L đã bán 62 số hóa đơn cho Đinh Phúc Đ, thu lợi bất chính số tiền: 134.179.669 đồng; bán 16 số hoá đơn cho Hoàng Thu H3, thu lợi bất chính số tiền là: 14.301.804 đồng; bán 11 số hoá đơn cho Lê Ngọc Q1, thu lợi bất chính số tiền là: 8.946.841 đồng; 15 số hoá đơn cho Nguyễn Thị Bích L2, thu lợi bất chính số tiền: 7.652.749 đồng.

Tổng cộng các bị cáo đã mua bán trái phép hóa đơn như sau:

  • Hoàng Kim L đã bán 104 số hoá đơn, thu lợi bất chính tổng số tiền là: 165.081.063 đồng;

  • Nguyễn Ánh Tuyết N đã bán 10 số hoá đơn cho Đinh Phúc Đ, thu lợi bất chính số tiền là: 18.568.420 đồng.

  • Hoàng Thu H3 đã bán 01 hóa đơn cho Trần Quang T2 thu lợi bất chính 3.400.000đ; H3 mua 15 số hoá đơn với Hoàng Kim L;

  • Đinh Phúc Đ đã mua 62 số hoá đơn với Hoàng Kim L, 10 số hoá đơn với Nguyễn Ánh Tuyết N.

  • Nguyễn Thị Bích L2 mua 15 số hoá đơn với Hoàng Kim L;

  • Lê Ngọc Q1 mua 11 số hoá đơn với Hoàng Kim L.

Tất cả các hóa đơn trên đều đã ghi nội dung và đã thanh toán xong.

Hành vi của bị cáo Hoàng Kim L đã phạm vào Tội mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 BLHS; bị cáo Đinh Phúc Đ phạm vào Tội mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 BLHS; Các bị cáo Hoàng Thu H3, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Ánh Tuyết N, Nguyễn Thị Bích L2 phạm vào Tội mua bán trái phép hóa đơn, quy định tại khoản 1 Điều 203 BLHS.

Điều 203. Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

“1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

...

d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;

đ) T3 lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;

...”

[3] Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp là đồng phạm cùng thực hiện hành vi Mua bán trái phép hóa đơn.

[4] Về nhân thân, các tỉnh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào.

  • - Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

  • - Tình tiết giảm nhẹ:

    • + Các bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    • + Các bị cáo Hoàng Thu H3, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Ánh Tuyết N, Nguyễn Thị Bích L2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Hoàng Kim L và bị cáo Hoàng Thu H3 có ông nội là Hoàng Văn T4 được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; Bố đẻ Hoàng Kim C được Thủ tướng chính phủ tặng Bằng khen; Mẹ đẻ Đàm Thục A được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Đinh Phúc Đ có ông nội Đinh Văn X được tặng Bằng khen của Bộ V thông tin và Bằng khen của T6; Bà nội Đinh Thị S được tăng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo L2 có bố Nguyễn Xuân H4 (Nguyễn Văn H6) được tặng Huân chương chiến công hạng ba; Bị cáo N có bố được tặng huân chương kháng chiến hạng ba.

Các bị cáo Hoàng Kim L, Nguyễn Ánh Tuyết N, Hoàng Thu H3 đã nộp số tiền thu lợi bất chính nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Lê Ngọc Q1 không có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Mục đích của các bị cáo là tìm kiếm lợi nhuận từ hành vi Mua bán trái phép hóa đơn, xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tiền để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là có căn cứ . Mức phạt tiền của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

[6] Về hướng xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) case máy tính tạm giữ tại nơi làm việc của Hoàng Kim L;

  • + 01 (một) case máy tính tạm giữ tại nơi làm việc của Đinh Phúc Đ;

Hai cây máy tính là phương tiện các bị cáo L và Đ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

+ Số tiền 153.400.000₫ là tiền các bị cáo do Mua bán trái phép hóa đơn thu lợi bất chính mà có nên cần tịch thu số tiền này để nộp Ngân sách Nhà nước. Tiếp tục truy thu số tiền số tiền 15.081.063đ của bị cáo L thu lợi bất chính mà có để nộp ngân sách nhà nước.

[7] Các nhận định khác:

Đối với Trần Quang T2 - Giám đốc Công ty TNHH Đ2 H7 đã mua 01 hóa đơn trái phép với Hoàng Thu H3, T2 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C khởi tố về Tội mua bán trái phép hóa đơn trong một vụ án khác, trong đó có hóa đơn này nên CQĐT không xử lý trong vụ án này là có căn cứ.

[8]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Các bị cáo L, Đ, H3, L2, Q1 phải chịu mỗi người 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo Nguyễn Ánh Tuyết N là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Về tội danh: Các bị cáo Hoàng Kim L, Đinh Phúc Đ, Hoàng Thu H3, Lê Ngọc Q1, Nguyễn Ánh Tuyết N, Nguyễn Thị Bích L2 phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

  • + Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Kim L 240.000.000đ (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đinh Phúc Đ 210.000.000₫ (Hai trăm mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Ngọc Q1 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Thu H3 55.000.000đ (Năm mươi năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Ánh Tuyết N 55.000.000đ (Năm mươi năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Bích L2 55.000.000đ (Năm mươi năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp NSNN:

Tịch số tiền 150.000.000₫ của bị cáo L; 3.400.000₫ của bị cáo H3; 18.568.420đ của bị cáo N là tiền các bị cáo thu lợi bất chính mà có để nộp Ngân sách Nhà nước. (Xác nhận Hoàng Kim L đã nộp 150.000.000đ; Hoàng Thu H3 đã nộp 3.400.000đ theo Biên bản giao nhận vật chứng số 39 ngày 10/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng); Nguyễn Ánh Tuyết N đã nộp 18.568.420đ theo Biên lai thu tiền số 0000352 ngày 07/11/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng).

  • + 01 (một) thùng cát tông niêm phong theo quy định, xung quanh thùng có dán giấy niêm phong, trên giấy có ghi: “Đồ vật, tài liệu tạm giữ khi khám xét nơi làm việc của Hoàng Kim L, mở và niêm phong lại ngày 24/7/2024" và có các chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai hình tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh C.

  • + 01 (một) thùng cát tông niêm phong theo quy định, xung quanh thùng có dán giấy niêm phong, trên giấy có ghi: “Đồ vật, tài liệu tạm giữ khi khám xét nơi làm việc của Đinh Phúc Đ, mở và niêm phong lại ngày 24/7/2024" và có các chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai hình tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh C.

Xác nhận các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao bằng tại Biên bản giao nhận vật chứng số 39 ngày 10 tháng 12 năm 2024.

- Tiếp tục truy thu của bị cáo Hoàng Kim L số tiền 15.081.063đ (Mười năm triệu không trăm tám mốt nghìn không trăm sáu ba đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo L, Đ, H3, L2, Q1 mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ để nộp ngân sách nhà nước.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Ánh Tuyết N là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Lâm

Nông Thị Vân

Hoàng Văn Thụ

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Phòng PC 03 Công an tỉnh CB;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB;
  • - Phòng PC10 Công an tỉnh CB;
  • - Sở Tư pháp CB;
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Cục THA dân sự;
  • - Người TGTT; Lưu; HCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về hình sự (tội mua bán trái phép hóa đơn)

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội mua bán trái phép hóa đơn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ năm 2020 - 2022, Hoàng Kim L và một số cá nhân khác trên địa bàn thành phố C do muốn thu lợi bất chính hoặc khi mua bán hàng hóa không có hóa đơn để thanh toán, không đăng ký kinh doanh, không sử dụng hoá đơn nên đã có hành vi mua bán trái phép hóa đơn. Cụ thể như sau: Hoàng Kim L đã bán 62 số hóa đơn cho Đinh Phúc Đ, thu lợi bất chính số tiền: 134.179.669 đồng; bán 16 số hoá đơn cho Hoàng Thu H3, thu lợi bất chính số tiền là: 14.301.804 đồng; bán 11 số hoá đơn cho Lê Ngọc Q1, thu lợi bất chính số tiền là: 8.946.841 đồng; 15 số hoá đơn cho Nguyễn Thị Bích L2, thu lợi bất chính số tiền: 7.652.749 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger