|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày 09-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mùng Thị Xanh;
- Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý A P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/01/1977, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Lý A C, đã chết; mẹ đẻ: Giàng Thị S, sinh năm 1949; bị cáo chung sống như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) với Chang Thị P1, sinh năm 1978; bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2006; gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 02; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/7/2024, đến ngày 01/8/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Từ ngày 12/9/2024 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 22/7/2024, tại đoạn đường thuộc khu vực bản S Mà P, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, Lý A P mua được 01 gói Heroine giá 350.000 đồng, của một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể. Mua được H1, P mang về cất giấu không cho ai biết. Ngày hôm sau, P mang theo gói Heroine lên lán ruộng của gia đình cấu một ít ra sử dụng 01 lần bằng hình thức hít, số Heroine còn lại, P chia thành 02 phần và gói lại bằng các mảnh nilon màu trắng rồi cất giấu không cho ai biết. Khoảng 14 giờ, ngày 23/7/2024, P đang ở lán ruộng thì Lý A D đến hỏi mua Heroine để sử dụng. P đồng ý bán cho D 01 gói Heroine lấy số tiền 50.000 đồng. Dế đưa cho P 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và nhận 01 gói Heroine của P. Lúc này, P chưa có tiền trả lại cho D nên P vẫn cầm tờ tiền Dế đưa. Mua được H1, D không hỏi ý kiến P mà tự ý lấy công cụ ra sử dụng hết số Heroine vừa mua được ngay tại lán của gia đình P, P nhìn thấy nhưng không nói gì, để mặc cho D sử dụng. Hồi 14 giờ 30 phút, cùng ngày 23/7/2024, tại lán ruộng của gia đình Lý A P, thuộc bản Sàng Mà Pho, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, khi Lý A D vừa sử dụng Heroine xong thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng đã thu giữ: Thu của Lý A P: 01 gói chất bột màu trắng, được gói bằng mảnh nilon màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Thu của Lý A D: 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy. Lý A P khai nhận chất bột màu trắng là Heroine của P mua về để sử dụng và bán, số tiền 200.000 đồng là tiền Páo nhận của D, trong đó có 50.000 đồng là tiền P bán Heroine cho D, còn 150.000 đồng do P không có tiền lẻ nên chưa trả lại được cho D. Lý A D khai 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc đã bị đót cháy là công cụ D sử dụng Heroine, tờ tiền 200.000 đồng thu giữ của P là tờ tiền D đưa cho P để mua Heroine hết 50.000 đồng, còn lại 150.000 đồng Dế chưa được P trả lại.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý A D về những vấn Dế liên quan đến vụ án phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Về dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.
Tại bản Kết luận giám định số: 57/KL-GĐVV, ngày 23/7/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lý A P có khối lượng là 0,362 gam. Bản Kết luận giám định số: 974/Kl-KTHS, ngày 29/7/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine. Bản Kết luận giám định số: 975/KL-KTHS, ngày 29/7/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số: 109/CT-VKSPT, ngày 27 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lý A P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lý A P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý A P từ 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng đến 03 (Ba) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng trong tổng số tiền 200.000 đồng thu của bị cáo; trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền 150.000 đồng trong tổng số tiền 200.000 đồng đã thu của bị cáo; tịch thu tiêu hủy 0,338 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy trắng không dòng kẻ, vỏ niêm phong vật chứng. Đối với 0,024 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, không đề cập giải quyết. Về án phí, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo. Tranh luận với quan điểm đề nghị của người bào chữa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội đã nêu.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo và về phần án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện về nhân thân, hoàn cảnh sống, nguyên nhân phạm tội của bị cáo; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt ở mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng tại phiên tòa, tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Lý A P đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý A D. Cụ thể: Khoảng 16 giờ ngày 22/7/2024, bị cáo Lý A P mua 01 gói Heroine tại bản S Mà P, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, Lý A D lấy số tiền 50.000 đồng. Sau khi mua được H1, D tự ý sử dụng ngay tại lán ruộng của gia đình P, P nhìn thấy nhưng không nói gì. Ngoài ra, Lý A P còn cất giấu 0,362 gam Heroine để sử dụng, nếu có ai hỏi mua thì bán. Khoảng 14 giờ 30 phút, cùng ngày 23/7/2024, tại lán ruộng của gia đình Lý A P, khi Lý A D vừa sử dụng hết số Heroine mua được của Lý A P thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Lý A P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện, có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc số ma túy, Lý A P khai mua của một người không rõ lai lịch cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để xác minh, điều tra làm rõ hành vi của người này. Việc bị cáo cất giấu 01 gói Heroine có tổng khối lượng 0,362 gam, mục đích để sử dụng và bán, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với Lý A D có hành vi mua Heroine của Lý A P để sử dụng. Để đã sử dụng hết số Heroine mua được, do đó Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D theo đúng quy định pháp luật.
Việc Lý A D sử dụng Heroine trong lán ruộng của Lý A P, do P không cho D mượn hay thuê địa điểm mà Dế tự ý sử dụng, không hỏi ý kiến của P nên P không phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận. Đối với quan điểm của người bào chữa về việc đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thây hoàn cảnh kinh tê của bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: Số tiền 50.000 đồng trong tổng số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo bán trái phép Heroine mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền 150.000 đồng trong tổng số tiền 200.000 đồng đã thu của bị cáo, là tiền của Lý A D nên cần trả lại Lý A D. Đối với 0,338 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và các mảnh nilon, 01 chiếc bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy trắng, vỏ niêm phong vật chứng là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,024 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Lý A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý A P: 02 (Hai) năm, 05 (Năm) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/7/2024.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng trong tổng số 200.000 đồng đã thu của bị cáo.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý A D số tiền 150.000 đồng trong tổng số tiền 200.000 đồng đã thu của bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 0,338 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy, 01 mảnh nilon và vỏ gói, vỏ niêm phong vật chứng.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
3. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo mua bán trái phép CMT
