|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày 03/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thanh Thúy.
- Ông Cà Văn Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lường Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Long Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Quàng Văn T (tên gọi khác: Quàng Văn P), sinh ngày 05 tháng 6 năm 1981; tại xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi thường trú: Bản S, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Quàng Văn K và bà Lò Thị N; vợ Mào Thị M (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2003, Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 15 tháng 9 năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Điện Biên xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt chính, chưa nộp án phí); Ngày 03 tháng 11 năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/6/2024).
Nhân thân: Ngày 25/7/2009 bị Công an huyện T, tỉnh Điện Biên xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 16/12/2009 bị Chủ tịch UBND tỉnh Đ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng; Ngày 13/6/2012 bị Chủ tịch UBND huyện T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh 12 tháng.
Bị bắt từ ngày 23 tháng 6 năm 2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/6/2024 tổ công tác Công an phường Q, Công an thành phố S, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ dân sinh phía bên trái Bến xe khách S thuộc tổ A phường Q, thành phố S phát hiện bắt quả tang Quàng Văn T (Q) đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa cục bột màu trắng Quàng Văn T (Quàng Văn P) khai nhận là ma túy Heroine, cất giữ để sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Quàng Văn T (Quàng Văn P), kết quả: Chất cục, bột màu trắng có khối lượng 0,33 gam, lấy 0,16 gam làm mẫu giám định ký hiệu Q, còn 0,17 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu T.
Tại Kết luận giám định số 1359/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu Q gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,33 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định!"
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 23/6/2024 Quàng Văn T (Quàng Văn P) được trả tự do vì đã chấp hành xong hình phạt tù tại trại giam Y. Sau đó, bị cáo đi nhờ xe tải từ huyện P, tỉnh Sơn La đến B tỉnh Sơn La. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày trong lúc đợi xe để về nhà ở huyện T, tỉnh Điện Biên, Quàng Văn T (Quàng Văn P) có nhu cầu sử dụng ma túy nên đi bộ từ B đến đường L thuộc tổ A phường Q thì gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với số tiền 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Quàng Văn T (Quàng Văn P) đang tìm nơi sử dụng thì gặp tổ công tác Công an phường Q làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra, bị cáo đã giao nộp gói ma túy cho tổ công tác như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy: Quàng Văn T (Quàng Văn P) khai do lần đầu gặp nên không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ để tiếp tục điều tra, xác minh.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 458/CT-VKSTP ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Quàng Văn T (Quàng Văn P) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T (Quàng Văn P) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Quàng Văn T (Quàng Văn P) từ 5 (năm) năm 1 (một) tháng đến 5 (năm) năm 5 (năm) tháng.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,17 gam Heroine ký hiệu T; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét hành vi phạm tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Quàng Văn T (Quàng Văn P) khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 23/6/2024, Quàng Văn T (Quàng Văn P) đã có hành vi cất giấu trái phép 0,33 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực B tỉnh Sơn La thuộc tổ A phường Q, thành phố S. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 0,33 gam Heroine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định; Kết luận giám định; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận điều tra.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo tàng trữ trái phép 0,33 gam Heroine nhưng bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội đây là tình tiết định khung hình phạt "tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oai sai.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Quàng Văn T (Quàng Văn P): Bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo, không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ để tiếp tục điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
[8] Vật chứng vụ án: Đối với 0,17 gam Heroine ký hiệu T còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở là vật bị cáo dùng để cất giấu ma túy, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Theo quy định điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
[9] Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T (Quàng Văn P) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn T (Quàng Văn P) 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,17 gam Heroine ký hiệu T; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Quàng Văn T (Quàng Văn P) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn T (Quàng Văn P) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/12/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Phượng |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
