|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 28-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thùng Văn Quân
- Ông Khoàng Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào A C; sinh ngày 25 tháng 3 năm 1975 tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Bản L, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...], ngày cấp: 24/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông Thào A S (đã chết) và bà Vàng Thị L (đã chết); Bị cáo có vợ là Hạng Thị Gi và 04 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 24/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 111/2013/HSST, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/9/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 23/9/2024 cho đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Thào A C: Bà Giàng Thị Nhung, sinh năm 1987 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 14/9/2024, tổ công tác Công an xã P, huyện N đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản L, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Thào A C đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau nghe tổ công tác giải thích, C đã tự giác giao nộp 01 gói nilon màu trắng, miệng gói được buộc thắt nút bên trong chứa cục chất bột dạng nén màu trắng đục, C đang cầm trong tay phải cho tổ công tác. Tổ công tác đã đưa C cùng vật chứng về trụ sở Công an xã P, mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng.
Quá trình điều tra Thào A C khai nhận: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 14/9/2024, Thào A C đi bộ từ nhà ở bản L, xã P, huyện N ra trung tâm xã P để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi gần tới điểm trường Mầm non bản L, C đã mua 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng của 01 người phụ nữ không quen biết với giá 50.000 đồng, rồi cầm trên tay phải đi bộ về nhà. Khi C đang đi bộ được khoảng 500 mét, thì gặp tổ công tác đang làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang thu giữ gói Heroine của C.
Tại Biên bản làm việc mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 14/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Chất bột dạng nén màu trắng đục thu giữ của Thào A C có khối lượng 0,42 (không phẩy bốn mươi hai) gam, gửi toàn bộ làm mẫu giám định.
Tại Kết luận giám định số 1489/KL-KTHS, ngày 20/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Vật chứng thu giữ của Thào A C có khối lượng 0,42 gam chất bột màu trắng đục, dạng nén là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine)."
Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKSNP ngày 07/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Thào A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Thào A C một lần nữa đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Thào A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Thào A C từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là 0,33 gam Heroine sau khi hoàn lại mẫu giám định và mảnh nilon cũ, phong bì niêm phong cũ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Thào A C nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nhân thân và hoàn cảnh gia đình của bị cáo để xử phạt bị cáo mức thấp nhất trong đề nghị của Kiểm sát viên. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Thào A C không tranh luận gì, khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Thào A C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 14/9/2024, bị cáo Thào A C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,42 (không phẩy bốn mươi hai) gam Heroine để sử dụng, được C cầm trong tay phải, khi đang đi bộ ở khu vực bản L, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra (BL 75 - 80; 83 - 86), phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ (BL 01 - 02), kết luận giám định (BL 48) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thào A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N, vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục.
[3] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thào A C có nhân thân xấu, ngoài lần phạm tội này bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 111/2013/HSST, ngày 24/9/2013 với tên gọi là Thào A C1, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/01/2014 và các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và Công văn số 77/CCCP-PV06, ngày 28/10/2024 của Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Điện Biên xác định Thào A C có vân tay đồng nhất với vân tay của Thào A C1, là cùng một người, có bố là Thào A S và mẹ là Vàng Thị L. Khi bị bắt giữ và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, theo Quyết định số 92 KT/CTN, ngày 06/02/2002 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân. Để đảm bảo thi hành án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo theo khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 0,33 (không phẩy ba mươi ba) gam Heroine hoàn lại sau khi giám định và 01 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong cũ, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy.
[6] Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, vì hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh, đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất trong đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát. Xét thấy đề nghị của người bào chữa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên và người bào chữa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Trong vụ án Thào A C khai đã mua Heroine của 01 người phụ nữ không quen biết vào ngày 14/9/2024 tại khu vực bản L, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người phụ nữ này ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa bị cáo Thào A C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thào A C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/9/2024.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,33 (không phẩy ba mươi ba) gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong cũ.
(Vật chứng được đựng trong 02 phong bì niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào A C.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Thào A C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 28/11/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Sao |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Thào A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
