|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 18/11/2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Vân
2. Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 18/11/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/ 2024/ HSST ngày 04/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/ QĐXXST- HS ngày 06/11/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N; Sinh ngày 08/01/1988; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: số nhà B T, phường Đ, thành phố T; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; ; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Cấp ngày: 09 tháng 5 năm 2021; Nơi cấp: Cục Q về TTXH; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn N1 - Đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H – Sinh năm 1949; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/9/2010, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xử phạt 07 năm tù về tội: “Giết người”. Chấp hành xong hình phạt ngày 09/10/2015.
Hiện nay bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú".
-Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1983 (anh trai bị cáo);
Nơi cư trú: số nhà E T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Lương Thanh V - Trợ giúp viên pháp lý nhà nước;
Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T;
Người làm chứng:
1. Chị Đinh Thị T, sinh năm 1967
Địa chỉ: S Q, phường Đ, Thành phố T;
2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn N, xã H, Thành phố T;
3. Chị Phùng Thị H1, sinh năm 1973
Địa chỉ: 0 L, phường Đ, Thành phố T;
Tại phiên toà có mặt bị cáo, Người đại diện hợp pháp, Người bào chữa cho bị cáo. Vắng mặt người làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h30' ngày 23/11/2023, tại chợ Đ1, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Văn N đi lại quầy bán thịt của chị Đinh Thị T và chị Phùng Thị H1 để chào chị T và chị H1 mua tăm bông. Nhưng chị T và chị H1 không mua và đuổi N đi chỗ khác để chị T, chị H1 bán hàng, nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại. Chị Phùng Thị H1 lo sợ N quấy rối nên khi thấy anh Nguyễn Anh T1 sinh năm 1965 trú tại số nhà D Q, phường Đ, thành phố T (là chồng chị T) đi đến chợ thì H1 kể lại sự việc cho anh T1, do bức súc nên khi nhìn thấy N đang đứng ở khu vực để xe trong chợ, anh T1 dùng tay tát 01 cái vào mặt N làm N ngã xuống đất rồi anh T1 ra về. Khi anh T1 đi, N đứng dậy đi bộ xung quanh chợ rồi đi đến quầy bán thịt của chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã H, thành phố T lấy 01 con dao bằng kim loại (loại dao năm dài 40cm, phần rộng nhất 10cm, cán bằng sắt, màu đen) đang để trên bàn, N cầm trên tay chạy đến quầy bán thịt của chị Phùng Thị H1, mọi người trong chợ thấy thế hô hoán cho chị H1 bỏ chạy, quá trình lùa đuổi, N vung dao chém về phía chị H1 nhưng không trúng, trong khi bỏ chạy chị H1 bị ngã, N vẫn tiếp tục lùa đuổi theo phía sau nên chị H1 đứng dậy tiếp tục bỏ chạy vòng quanh khu vực bán thịt trong chợ thì được mọi người can ngăn, thu dao trên tay N thì N dừng lại.
Quá trình N lùa đuổi chị H1, chị H1 bỏ chạy bị ngã tạo nên: 01 vết trầy xước da bầm tím tại mặt trong bắp tay phải, kích thước (10 x 13)cm. Ngoài ra không phát hiện thương tích gì trên cơ thể Nguyễn Văn N.
Ngày 28/11/2023, UBND phường Đ có Công văn số 1014/UBND-CA về việc đề nghị xử lý Nguyễn Văn N về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Văn N có tiền sử điều trị tại Bệnh viện tâm Thần tỉnh T, nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Nguyễn Văn N.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 205/KLGĐ ngày 07/8/2024 của V1 kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định thì Nguyễn Văn N bị bệnh động kinh toàn thể cơn lớn có biến đổi nhân cách, mức độ vừa. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số G40.6. Tại các thời điểm trên Nguyễn Văn N bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Đối với hành vi của Nguyễn Anh T1 dùng tay không đánh Nguyễn Văn N, nhưng không để lại thương tích. Bản thân N đã có đơn từ chối giám định thương tích và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Do đó không có cơ sở để xử lý hình sự đối với Nguyễn Anh T1 về tội “Cố ý gây thương tích”, Cơ quan điều tra chuyển Công an Thành phố Thanh Hóa ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Anh T1 về hành vi “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 7 Nghị Định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
Tang vật thu giữ và xử lý:
01 con dao năm dài 40cm, phần rộng nhất 10cm, cán bằng sắt, màu đen. Quá trình điều tra xác định đây là dao của chị Nguyễn Thị P, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị P là chủ sở hữu hợp pháp.
Ngoài ra, còn thu giữ 01 USB nhãn hiệu Kingston màu trằng chứa video liên quan đến nội dung vụ án. Tại bản kết luận giám định số 2121/KL-KTHS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của phòng hình sự Công an tỉnh T đã kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của USB gửi giám định.
Tại bản cáo trạng số 287/CTr-VKSTP ngày 03/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về các tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:
Áp dụng:
Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s, q Khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Nguyễn Văn N từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và NQ 326/2016/UBTVQH14.
Ý kiến của người bào chữa: Bị cáo Nguyễn Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa không có ý kiến gì về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với Nguyễn Văn N. Tuy nhiên bản thân Nguyễn Văn N là người hạn chế năng lực hành vi, tinh thần không ổn định, do bị người khác đánh, nên Nguyễn Văn N đã có những hành vi không đúng. Mặt khác mẹ bị cáo hiện đã già, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện nay bị cáo đang hưởng trợ cấp xã hội. Do đó đề nghị HĐXX áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s, q Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất .
Bị cáo và người đại diện hợp pháp không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.
[ 2] Về hành vi phạm tội:
Vào khoảng 12h30' ngày 23/11/2023, tại quầy bán thịt trong khu vực chợ Đ1, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Văn N đã có hành vi cầm 01 dao năm dài 40cm, chỗ rộng nhất 10cm lùa đuổi chị Phùng Thị H1 xung quanh dãy quầy bán thịt, gây náo loạn cả khu chợ. Hành vi của Nguyễn Văn N đã làm mất trật tự an toàn nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn, lúc này có rất nhiều người chứng kiến và lo sợ.
Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo cáo Nguyễn Văn N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn N là người bị bệnh động kinh toàn thể cơn lớn có biến đổi nhân cách, mức độ vừa. Khi có mâu thuẫn, tác dộng vào tâm lý thì bị cáo đã không làm chủ được bản thân, nên đã thực hiện hành vi dùng dao lùa đuổi chị Phùng Thị H1 chạy xung quanh dãy quầy bán thịt, gây náo loạn khu chợ, làm cho những người chứng kiến hoang mang lo sợ.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và hoạt động bình thường của người dân ở nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.
[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không;
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; Hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; Có bố là thương binh, được tăng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s, q Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt:
Do đó căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s, q Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 136; Điều 331 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Đa Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt:
Nguyễn Văn N 24 ( hai mươi bốn) tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí:
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hương |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
