|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 21/2024/DS - ST Ngày 28/9/2024 V/v Chia di sản thừa kế theo pháp luật. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Duy Phu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sao Hôm
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2023/TLST - DS ngày 21 tháng 12 năm 2023 và thụ lý yêu cầu bổ sung số 74A/2024/TB-TLVA ngày 23 tháng 05 năm 2024 về việc Chia thừa kế theo pháp luật theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST - DS ngày 10 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 18B/2024/QĐST - DS ngày 31 tháng 8 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 01/TB-TA ngày 24/9/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1971
Địa chỉ: Số A, phố T, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương, (có mặt).
-
Bị đơn: Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1959
Địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương, (có mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1963
Địa chỉ: Số 15c, phố T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, (vắng mặt);
Người đại diện theo sự ủy quyền của ông Đỗ Văn T2 tại Giấy ủy quyền ngày 27/12/2023: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số A, phố T, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương, (có mặt).
-
Bà Đặng Thị D, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương
Người đại diện theo sự ủy quyền của bà Đặng Thị D tại Giấy ủy quyền ngày 08/4/2024: ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương, (có mặt).
-
Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương
Người đại diên theo pháp luật : Ông Trần Văn H - Chủ tịch, (vắng mặt).
-
Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1963
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày:
Bố là Đỗ Văn T3, chết năm 2019. Mẹ là Vũ Thị M chết năm 2008, không để lại di chúc. Hai cụ có 03 người con: Đỗ Văn T1, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị T. Ngoài ra, hai cụ không còn bất kỳ một người con nào khác. Khi bố mẹ còn sống đã tách cho ông Đỗ Văn T1 một phần đất mà hai cụ tạo dựng được trong những năm chung sống cùng nhau. Phần còn lại hai cụ xây dựng căn nhà cấp 4 gồm ba gian để ở, công trình phụ để sinh hoạt riêng cho đến khi chết.
Khi chết hai cụ để lại 488 m² đất ở, đất ao tại thửa 64 tại thôn D và 509 m² đất nông nghiệp tại khu đồng cống Cộc, thôn D. Bà đề nghị chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở, đất vườn, đất nông nghiệp của cụ T3, cụ M theo quy định của pháp luật cho 03 người con. Bà đề nghị xin được hưởng bằng hiện vật. Đối với công sức duy trì, tôn tạo, phát triển, trông nom, quản lý đối với di sản thừa kế của vợ chồng ông T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với chi phí thẩm định, định giá tài sản, bà đề nghị các đồng thừa kế phải hoàn trả cho bà số tiền đã tạm ứng. Do mắc bệnh hiểm nghèo, bà đề nghị được miễn án phí. Ngoài ra, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết bất kỳ di sản nào khác.
Tại biên bản ghi lời khai đương sự ngày 15/01/2024, ngày 14/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đỗ Văn T1 trình bày:
Ông và bà Đỗ Thị T là anh em ruột. Ông đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án. Ông không có tài liệu gì cần nộp cho Tòa án. Vợ ông là bà Đặng Thị D, sinh năm 1964. Hai vợ chồng có ba người con: Đỗ Thị T4, sinh năm 1986, Đỗ Văn Q, sinh năm 1988 (đã chết), Đỗ Văn H1, sinh năm 1990. Sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án và được đọc lời khai của bà T. Lời khai của bà T là chính xác, ông nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà T. Tuy nhiên, ông đề nghị thay đổi vị trí ngõ đi vào phía trong thửa đất của gia đình nhà ông đang sử dụng và đề nghị chiều rộng ngõ vào là 3m. Di sản thừa kế, ông sử dụng trồng mầu và một số cây ăn quả. Ông sử dụng từ năm 2017 (khi cụ T3 còn sống cho phép sử dụng) cho đến nay. Nguồn gốc di sản thừa kế có một phần ao, diện tích khoảng 50m² (mỗi chiều 7m, sâu trung bình 1,2m). Trong quá trình sử dụng, ông đã san lấp cải tạo thành vườn. Ông đã san lấp hết khoảng 50 m³ vừa đất vừa cát, trị giá bao nhiêu không nhớ. Người san lấp là ông Vũ Văn L, sinh năm 1960, Địa chỉ cư trú: Khu Đ, gần ngã Tư đèn đỏ, thị trấn P. Năm 2016, vợ chồng ông có xây tường bao bằng gạch chỉ hết chiều dài của vườn, cạnh bên phải tính từ đường trục chính vào dài khoảng 22-23m (600.000 đồng/m). Trên đất, ông trồng 40 trụ thanh long (cọc trụ 150.000 đồng/trụ), 30 cây cau, 02 cây nhãn, 08 cây mít, 01 cây chay, 20 cây na, 01 cây hồng xiêm Ngoài ra, vợ chồng ông không có đầu tư gì trên đất. Ai được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất có các công trình, tài sản của vợ chồng ông trên đất phải thanh toán trả cho ông bằng tiền. Ông cho rằng việc đo đạc đất thổ cư là di sản thừa kế ngày 14.5.2024 của Tòa án là chưa chính xác vì diện tích tăng quá nhiều, chưa xác định được mốc giới. Ông đề nghị chia phần diện tích đất có ngôi nhà cụ T3, cụ M xây dựng cho ông, ông làm nơi thờ cúng chung. Đất nông nghiệp không chia vì ông muốn để lại, sau này nhà nước đền bù, được bao nhiêu, ông sử dụng để tôn tạo nơi thờ cúng chung.
Việc địa chính xã cho rằng, nguyên nhân di sản tăng là do di sản thừa kế xây vào mương nước của xã, tính từ mép tường bao sát với đường xóm sâu vào trong đất di sản một cạnh là 3m và một cạnh là gần 3m, chiều dài mặt đường khoảng 24m, tổng diện tích đất công là trên 50 m² là không chính xác vì mương nước không rộng như vậy. Ông xác định mương chỉ rộng từ 1,5m đến 2m. Ông đề nghị địa chính xã kết hợp với thôn N xác minh lại để xác định mốc giới cho chính xác. Ông không có thắc mắc gì về vị trí của di sản. Ông xác định di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại như sơ đồ đo ngày 14/5/2024. Ông chỉ thắc về diện tích tăng và mốc giới. Ông xác định, ngôi nhà vợ chồng ông đang ở xây dựng khoảng từ năm 1989 đến năm 1990. Ngôi nhà cụ T3, cụ M xây dựng năm 1987. Các cụ xây dựng trước, ông mới có đất làm nhà. Trong quá trình sử dụng di sản thừa kế, ông đã san lấp 30 m³ cát và 30 m³ đất mầu. Ông nhất trí với kết luật định giá. Về đất nông nghiệp, vợ chồng ông sử dụng từ năm 2008, thời điểm mẹ ông mất, để vợ chồng ông cày cấy lấy thóc cho bố ông sử dụng. Trong thời gian sử dụng, vợ chồng ông không có công sức gì trong việc tôn tạo đất nông nghiệp, chỉ có đóng phí dịch vụ đất nông nghiệp. Nếu ông thờ tổ tiên ở gia đình nhà ông thì các anh em ông không thể tập trung được. Các con ông không có công sức gì đối với di sản thừa kế của cụ T3 và cụ M. Gia đình ông không phải là gia đình chính sách. Ông cam đoan lời khai của ông là đúng. Nếu sai ông hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 15/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T2 trình bày:
Bố là Đỗ Văn T3, chết năm 2019. Mẹ là Vũ Thị M chết năm 2008. Hai cụ có 03 người con: Đỗ Văn T1, Đỗ Văn T2, Đỗ Thị T. Khi bố mẹ còn sống đã tách cho ông T1 một phần đất ở. Phần còn lại hai cụ xây dựng căn nhà cấp 4 gồm ba gian để ở, cùng công trình phụ để sinh hoạt riêng cho đến khi chết tại thửa 64. Quyền sử dụng đất đứng tên ông T3 diện tích 488 m². Trước khi chết, hai cụ không để lại di chúc. Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T. Nguyện vọng ông muốn nhận di sản thừa kế bằng đất để xây dựng nhà ở. Ông đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án. Ông không có tài liều gì cần phải nộp cho tòa, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do điều kiện ở xa, ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt. Ông từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Tất cả mọi việc, ông ủy quyền cho bà T thay mặt giải quyết mọi vấn đề trong vụ án. Các văn bản tố tụng, bà T thay mặt ông nhận thay. Thời gian ủy quyền từ khi thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong ở các cấp Tòa án.
Tại Biên bản xác minh, địa chính xã P cung cấp :
- Căn cứ vào bản đồ 299 đo vẽ năm 1986, tờ bản đồ số 05, ông Đỗ Văn T3 sử dụng 02 thửa đất : Thừa 349 tờ bản đồ số 05 diện tích 670 m² loại đất T (thổ cư). Thửa 348 tờ bản đồ số 05 (không ghi mã loại đất và diện tích).
-
Căn cứ vào Bản đồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1990, sổ mục kê năm 1990 :
Thừa 149 tờ bản đồ số 05 diện tích 172 m² loại đất ao và Thửa 150 tờ bản đồ số 05 diện tích 315m² loại đất T đứng tên ông Đỗ Văn T3.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A179282 cấp ngày 14/11/1990 cho ông Đỗ Văn T3 được quyền sử dụng đất 488 m² thuộc thửa 149, 150 tờ bản đồ số 05 (trong đó đất ở là 300 m², thời hạn sử dụng lâu dài, 15m² đất vườn kinh tế gia đình thời hạn sử dụng đến tháng 10/1998, 173 m² đất ao kinh tế gia đình thời hạn sử dụng đến tháng 10/1998).
-
Căn cứ vào bản đồ đo đạc năm 2001 và sổ mục kê thể hiện :
Thửa 63 tờ bản đồ số 07 diện tích 58,8m² loại ao.k và Thửa số 64 tờ bản đồ số 07 diện tích 449,5m² loại đất T (thổ cư) đứng tên ông Đỗ Văn T3.
- Căn cứ vào biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất lập ngày 21/12/2001 của ông T3 đang sử dụng tại xóm A thôn D, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương (có sơ đồ kích thước cạnh kèm theo). Biên bản xác nhận ranh giới mốc giới có chữ ký của các chủ sử dụng đất và các hộ liền kề.
- Theo sơ đồ hiện trạng đo vẽ ngày 14/5/2024 kèm theo biên bản thẩm định thì hình thể quyền sử dụng đất của cụ Đỗ Văn T3 đã có sự thay đổi. Nguyên nhân do tại thời điểm đo đạc năm 2001 (khi ông T3 còn sống) đã thỏa thuận thống nhất tách cho con trai là ông Đỗ Văn T1 sử dụng phần đất phía trong, ông Đỗ Văn T3 sử dụng toàn bộ phần đất phía ngoài có để lại ngõ đi cho ông Đỗ Văn T1 vào thửa đất phía trong. Sự thỏa thuận thống nhất đổi đất giữa ông T3 và ông T1 không lập thành văn bản nhưng khi đo đạc ông T1 và ông T3 có ký vào biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 22/12/2001 và các bên sử dụng ổn định từ đó đến nay.
- Theo GCNQSDĐ thửa 149, 150 tờ bản đồ số 05 thôn D, xã P, huyện K đăng ký tên ông Đỗ Văn T3.
- Theo bản đồ 2001 giữa ông T3 và ông T1 đổi đất cho nhau. Ông T1 vào thửa đất phía trong. Ông T3 sử dụng phần đất phía ngoài như sơ đồ đo đạc hiện trạng kèm theo biên bản thẩm định ngày 14/5/2024. Tên thửa đăng ký ông T3 hiện nay là số 63,64 tờ bản đồ số 07 thôn D. Diện tích đo hiện trạng ngày 14/5/2024 là 538,1m² có 43,6m² là đất công của xã (đất thủy lợi). Diện tích 43,6 m² có cạnh phía bắc giáp cổng, từ mép đường kéo vào phía trong đất 2,6m cạnh phía nam từ mép đường kéo vào phía trong đất là 2,16m.
Quan điểm của địa phương đề nghị tách trả 43,6m² cho Uỷ ban nhân dân xã. Đối với phần cổng của nhà ông T1 cũng xây vào đất thủy lợi 8,2m² đề nghị Tòa án tách trả lại cho UBND xã. Đất ngõ nhà ông T1, Ủy ban nhân dân xã X là 92,3m² (bao gồm cả phần đất sát ao hàng xóm).
- Căn cứ vào sổ điền đất 03 trang 78 thể hiện chủ sở hữu đất ông Đỗ Văn T3 gồm 3 khẩu, tổng diện tích đất là 509 m² gồm các thửa: Thửa 309 tờ bản đồ số 17 diện tích 126 m², Thửa 16 tờ bản đồ số 17 diện tích 102 m², Thửa 105 tờ bản đồ số 17 diện tích 281 m², đều ở xứ đồng cống Cộc. Hiện nay vẫn giữ nguyên hiện trạng. Theo như sơ đồ đo hiện trạng ngày 25/7/2024 diện tích đất nông nghiệp của cụ T3 gồm 2 thửa tổng diện tích là 658 m². Nguyên nhân tăng là có đất công điền của xã đo vào phần diện tích đất này, yêu cầu tách trả UBND xã phần diện tích đất công điền này trước khi chia thừa kế. Căn cứ vào sổ điền đất 03 trang 78 thể hiện 72 m² đất 03 được chia vào vườn của ông T3 là tiêu chuẩn của cụ M, cụ T3.
- Do công việc bận, người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã X đề nghị giải quyết xét xử vụ án vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
Tại phiên tòa, các đương sự giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên. Bà T, ông T1 xác định vị trí, diện tích di sản thừa kế như sơ đồ đo vẽ hiện trạng, đề nghị lấy vị trí, diện tích di sản như hiện trạng để làm căn cứ giải quyết vụ án. Nhất trí tách trả UBND xã diện tích đất mương, đất công điền như địa chính xã xác định. Đối với đất nông nghiệp, do ông T1 từ chối nhận, bà T đề nghị giao cho bà T, bà đồng ý sẽ chia trả cho các đồng thừa kế khác bằng tiền. Ngoài ra, các đương sự không yêu cầu giải quyết bất kỳ một di sản nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về cơ bản chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1,2 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1,2 Điều 165, khoản 1 Điều 166 ; điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 229, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660, khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 103 Luật đất đai năm 2013; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T.
Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ T3 là ngày 22/5/2019; Thời điểm mở thừa kế của cụ M là ngày 28/8/2008. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3, cụ M gồm: ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Văn T2 và bà Đỗ Thị T;
- Chia thừa kế:
Đối với đất ở: Trích trả UBND xã diện tích đất thủy lợi trong di sản thừa kế của cụ T3, cụ M là 43,6 m². Trích trả công sức trông nom, duy trì tôn tạo tài sản cho ông T1 từ 20,5m² đến 30,5m².
Xác định di sản thừa kế của cụ T3, cụ M để lại còn từ 538,1 - (43,6 +20,5) = 474 m² đến 538,1 - (43,6 +30,5) = 464 m² thuộc tờ bản đồ số 63, 64 tờ bản đồ số 07 tại thôn D, xã P, K, Hải Dương, được chia thành 3 kỷ phần, mỗi kỷ phần được nhận từ 154,6 m² đến 158 m².
Giao cho ông T1 được nhận phần đất giáp lối đi nhà ông T1. Đối với phần đất ông T2 và bà T được chia có cây trồng trên đất phải trả cho ông T1 giá trị cây trồng theo biên bản định giá tài sản.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật; căn cứ Quyết định của bản án ông T2 và bà T được quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế là diện tích đất được phân chia theo quy định của pháp luật. Đối với ông T1 có quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được phân chia.
Đối với Đất nông nghiệp: Trích trả UBND xã diện tích đất thủy lợi trong di sản thừa kế của cụ T3, cụ M là 149 m².
Xác định di sản thừa kế cụ M, cụ T3 để lại có diện tích là 658 - 149m² = 509m². Giao toàn bộ diện tích đất nông nghiệp này cho bà T quản lý, sử dụng. Bà T có trách nhiệm trả cho ông T1 và ông Trọng kỷ P được nhận bằng tiền theo biên bản định giá tài sản ngày 25/7/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
Về tố tụng:
Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có Giấy ủy quyền. Căn cứ khoản 2 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi liên quan theo quy định.
-
Về Luật áp dụng:
Cụ M chết năm 2008, thời điểm Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực. Cụ T3 chết năm 2019, Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực. Lẽ ra phải áp dụng luật nội dung tại thời điểm mở thừa kế để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, thời điểm giải quyết tranh chấp, Bộ luật Dân sự 2015 đang có hiệu lực. Các chế định về chia di sản thừa kế theo pháp luật của Bộ luật dân sự 2015 không có gì khác so với Bộ luật Dân sự 2005. Do vậy, cần áp dụng các chế định của Bộ luật Dân sự 2015 để giải quyết vụ án cho phù hợp.
-
Về quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ M, cụ T3 theo pháp luật. Quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật được quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 649 Bộ luật Dân sự.
-
Về thời điểm mở thừa kế:
Cụ M chết ngày 25/8/2008. Cụ T3 chết ngày 21/5/2019. Theo qua định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự, thời điểm mở thừa kế lần thứ nhất đối với di sản của cụ M là ngày 25/8/2008, thời điểm mở thừa kế lần thứ hai đối với di sản của cụ T3 là ngày 21/5/2019. Tuy nhiên, hàng thừa kế của hai cụ không thay đổi, chỉ cần mở thừa kế tại thời điểm cụ T3 chết cũng không làm mất đi quyền lợi của các đương sự.
-
Về thời hiệu chia di sản thừa kế:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự, thời hiệu khởi kiện về thừa kế đối với bất động sản là 30 năm kể từ ngày mở thừa kế. Tính đến ngày khởi kiện, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất của cụ M, cụ T3 vẫn còn.
-
Về hàng thừa kế:
Các đương sự đều thừa nhận: Cụ M và cụ T3 có 03 người con là ông T1, ông T2, bà T. Ngoài ra, không còn bất cứ người con nào khác. Sự thừa nhận của các đương sự phù hợp với các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Đây là sự kiện pháp lý không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Năm 2008, cụ M chết, hàng thừa kế thứ nhất của cụ M gồm cụ T3, ông T1, ông T2, bà T. Năm 2019, cụ T3 chết, hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3 gồm ông T1, ông T2, bà T.
-
Xác định di sản thừa kế.
-
Đối với quyền sử dụng đất
Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày 14/11/1990 và hồ sơ đất qua các thời kỳ di sản của cụ M, cụ T3 gồm: 315 m² đất thổ cư và 173 m² đất ao tại thửa 149, 150 tờ bản đồ số 05 xã P; 509 m² đất nông nghiệp tại các thửa 309, 16, 105 tờ bản đồ số 17 tại xứ đồng Cống Cộc, thôn D, xã P.
Tuy nhiên, theo Kết quả thẩm định ngày 26/4/2023, ngày 25/7/2024 và Biên bản xác minh ngày 25/7/2024, ngày 31/7/2024 tại UBND xã P di sản thừa kế của cụ M, cụ T3 gồm:
- 538,1 m² đất, so với hình thể, diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có sự thay đổi, diện tích tăng 50,1m² so với diện tích theo bản đồ năm 2001 tăng 29,8 m².
- 658 m² đất nông nghiệp tại các thửa 309, 16, 105 tờ bản đồ số 17 thuộc xứ đồng Cống Cộc, thôn D, xã P. So với diện tích được giao tăng (658 m² -509m²) là 149 m²
Theo UBND xã P lý do hình thể và diện tích, số thửa đất ở, đất ao là di sản thừa kế của cụ M, cụ T3 thay đổi là do năm 2001 giữa cụ M, cụ T3 và gia đình ông T1 đổi đất cho nhau. Ông T1 vào sinh sống phần đất phía trong, gia đình cụ T3 sinh sống ở phần đất phía ngoài. Mặt khác, trong 538,1 m² đất có 43,6 m² đất thủy lợi, trong tổng số 658 m² đất nông nghiệp có 149 m² đất công điển của xã. UBND xã P yêu cầu tách trả UBND xã trước khi chia thừa kế. Sau khi tách trả UBND xã đất giao thông thủy lợi, di sản thừa kế vẫn còn tăng 29,8m² nguyên nhân là sai số do đo đạc.
Các đồng thừa kế đồng ý tách trả UBND xã phần diện tích đất thừa và lấy diện tích, hình thể đo thực tế để làm căn cứ phân chia di sản. Sự tự nguyện của các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội được chấp nhận.
Quyền sử dụng đất ở, đất ao là di sản thừa kế của cụ M, cụ T3, không chỉ thay đổi vị trí, hình thể, mà còn thay đổi về số thửa. Theo sự thống nhất của các đương sự, để thuận lợi cho việc giải quyết vụ án và thi hành án sau này, HĐXX lấy tên thửa theo Hồ sơ đất năm 2001 là thửa 64, 65 làm căn cứ giải quyết vụ án.
Sau khi tách trả tách trả UBND xã P 43,6 m², quyền sử dụng đất ở đất ao của cụ M, cụ T3 là 494,5 m², quyền sử dụng đất nông nghiệp của cụ M, cụ T3 làn 509 m².
- Đối với di sản là tài sản công trình, cây trồng trên đất: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Đối với di sản là quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm: Căn cứ vào kết quả xác minh, hộ cụ M, cụ T3 được chia 03 khẩu (gồm cụ M, cụ T3, bà T). Có 72 m² đất trừ vào vườn là tiêu chuẩn của cụ M, cụ T3. Do vậy không phải tách trả cho các thừa kế trước khi chia di sản thừa kế.
- Đối với phần đất ngõ diện tích 100,5m2 (trong đó có 92,3 m² là đất của ông T1, 8,2 m² là đất thủy lợi của xã) đi vào quyền sử dụng đất phía trong của nhà ông T1, bà D, các đương sự xác định là ngõ của nhà ông T1, bà D không yêu cầu giải quyết, nên không xét.
-
Đối công trình, vật kiến trúc, cây trồng trên đất
- Ông T1 xác định trong thời gian trông coi di sản thừa kế, vợ chồng ông có xây dựng tường bao, trụ cổng một số cây ăn quả. Ông yêu cầu các đồng thừa kế khi được phân chia quyền sử dụng đất phải thanh toán trả vợ chồng ông giá trị tài sản, công trình, cây trồng trên đất. Các đồng thừa kế đồng ý. Sự tự nguyện của các đồng thừa kế không trái pháp luật và đạo đức xã hội được ghi nhận.
Căn cứ vào hồ sơ đất năm 2001, Biên bản định giá ngày 25/7/2024, di sản của cụ M, cụ T3 để lại có trị giá như sau:
- - 449,5 m² đất ở x 5.500.000 đồng/m² = 2.472.250.000 đồng;
- - 45 m² ao (liền thổ với đất ở giá trị như đất trồng cây lâu năm) x 2.700.000 đồng/m² = 121.500.000 đồng.
- - 509 m² đất nông nghiệp x 300.000 đồng/m²= 152.700.000 đồng.
- Tổng trị giá 2.746.450.000 đồng.
-
Đối với quyền sử dụng đất
-
Về phân chia thừa kế
-
Về công sức:
Ông T1 đề nghị công sức san lấp ao: Căn cứ vào hồ sơ đất xã P năm 2001 tại Thửa 63 tờ bản đồ số 7 đứng tên ông Đỗ Văn T3 có 58,8 m² đất ao. Theo lời khai của ông T1 ngày 15/01/2024, ông xác định ao rộng 50 m² sâu 1,2, tổng số cát đã san lấp là 60 m³. Tại bản kê khai san lấp ao, vườn ngày 13/5/2024, ông T1 xác định đã san lấp 30 m³ đất mầu, 30 m³ cát. Lời khai của ông T1 về cơ bản phù hợp với hồ sơ đất, nên có cơ sở chấp nhận cho ông T1 đã san lấp 60m³ đất, cát. Căn cứ vào Biên bản định giá ngày 25/7/2024, giá trị đất, cát san lấp của ông T1 là 60 m³ x 210.000 đồng/m³ = 12.600.000 đồng. Ngoài ra, Hội đồng xét xử cần áng trích công sức duy trì, tôn tạo đối với di sản cho ông T1 là 100.000.000 đồng, tổng cộng là 112.600.000 đồng. Do quyền sử dụng đất rộng cần trích trả công sức tôn tạo, phát triển di sản cho cho vợ chồng ông T1 bằng quyền sử dụng đất ở (112.600.000 đồng tương ứng 20,5 m² đất ở). Ông T1, bà D tự nguyện nhập số tiền công sức tôn tạo phát triển di sản vào kỷ phần thừa kế ông T1 được chia. Sự tự nguyện của các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội được ghi nhận.
Về công sức trông coi quản lý: Tại phiên tòa, ông T1 không yêu cầu, HĐXX không xem xét.
-
Chia di sản của cụ M, cụ T3
Sau khi trích trả công sức cho vợ chồng ông T1 20,5 m² đất ở, di sản của cụ M cụ T3 còn 429 m² đất ở trị giá 2.359.500.000 đồng, 45 m² ao (liền thổ với đất ở giá trị như đất trồng cây lâu năm) trị giá 12 1.500.000 đồng, 509 m² đất nông nghiệp trị giá 152.700.000 đồng, tổng trị giá 2.633.700.000 đồng .
Chia cho 03 kỷ phần, mỗi kỷ phần làm tròn được hưởng 877.900.000 đồng (T5 trăm bẩy mươi bẩy triệu chín trăm ngàn đồng chẵn).
-
Về yêu cầu chia di sản thừa kế bằng hiện vật
Đối với đất ở, đất vườn, các đương sự đều có nguyện vọng hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật. Xét thực tế hiện trạng đất có thể chia bằng hiện vật và đề nghị của các đương sự là phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận và phân chia hiện vật cho các đồng thừa kế.
Về vị trí phân chia di sản là đất ở: Mặc dù, ông T1 có nguyện vọng được chia vào vị trí có ngôi nhà của cụ T3 và cụ M, để ông T1 làm nơi thờ cúng tổ tiên. Tuy nhiên, nhà cụ T3, cụ M xây dựng nhiều năm đã hỏng, xuống cấp. Mặt khác, di sản thừa kế có vị trí sát với phần đất ngõ của gia đình ông T1. Do vậy, HĐXX chia cho ông T1 phần đất thừa kế sát với ngõ đi của nhà ông T1, để ông T1 khai thác tốt nhất quyền sử dụng đất được chia. Sau vị trị của ông T1 đến vị trí chia cho ông T2, sau vị trí của ông T2 đến vị trí chia cho bà T6.
Đối với đất nông nghiệp: Tại phiên tòa, bà T đồng ý nhận di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nông nghiệp được ông T1 đồng ý nên giao cho bà T di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nông nghiệp. Bà T phải có trách nhiệm trích trả cho các kỷ phần thừa kế khác bằng tiền.
Việc phân chi di sản là quyền sử dụng đất cụ thể như sau:
Chia cho ông Đỗ Văn T1, được hưởng 201,6 m² đất trị giá 982.800.000 đồng (trong đó có 45 m² đất ao đã san lấp liền thổ với đất ở trị giá 121.500.000 đồng, 136,1 m² đất ở trị giá 748.550.000 đồng là phần di sản ông T1 được hưởng, 20,5 m² đất ở trị giá 112.750.000 đồng là phần áng trích công sức san lấp, tôn tạo, phát triển di sản) tại thửa 63, 64 tờ bản đồ số 7 xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương theo hình A29A30A31A32 Sơ đồ 1 (trên đất có một số cây do vợ chồng ông T1 trồng). Tạm giao cho ông Đỗ Văn T1 tiếp tục quản lý khai thác phần diện tích đất mương 16,6 m² theo hình A11A33A32A29 sơ đồ 1 (trên đất có một số cây do ông T1 trồng), đến khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi hoặc hợp thức hóa thủ tục về quyền sử dụng đất.
Chia cho ông Đỗ Văn T2 được hưởng 146,9 m² đất ở trị giá 807.950.000 tại thửa 64 tờ bản đồ số 7 xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương theo hình A32A31A20A35 Sơ đồ 1, trên đất có một số công trình là di sản của cụ T3, cụ M các đương sự không yêu cầu giải quyết và 22 trụ cây thanh long x 228.000 đồng/01 trụ cây trị giá 5.016.000 đồng, 02 cây na x 70.000 đồng/cây trị giá 140.000 đồng, 01 cây mít trị giá 180.000 đồng do ông Đỗ Văn T1 trồng, tổng trị giá cây là 5.336.000 đồng. Tạm giao cho ông Đỗ Văn T2 tiếp tục quản lý khai thác phần diện tích đất mương 13,8 m² theo hình A32A33A34A35 sơ đồ 1, trên đất có 04 trụ cây thanh long x 228.000 đồng/trụ cây trị giá 912.000 đồng, 04 cây cau x 200.000 đồng/cây trị giá 800.000 đồng do ông T1 trồng, tổng 1.712.000 đồng, đến khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi hoặc hợp thức hóa thủ tục về quyền sử dụng đất. Ông T2 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông T1 giá trị tiền cây trên đất là 7.048.000 đồng.
Chia cho bà Đỗ Thị T được hưởng 509 m² đất nông nghiệp khu cánh đồng cống Đìa, thôn D, xã P, huyện K theo hình A1A2A3A4 sơ đồ 2, hình A4A5A6A7 sơ đồ 3 trị giá 152.700.000 đồng và 146 m² đất ở tại thửa 64 tờ bản đồ số 7, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương trị giá 803.000.000 đồng theo hình A35A20A19A17A16A15A14A13 Sơ đồ 1, trên đất có tường bao do ông T1 xây dựng trị giá 18.625.000 đồng, 14 trụ cây thanh long x 228.000 đồng/trụ cây trị giá 3.192.000 đồng, 06 cây na x 70.000 đồng/cây trị giá 420.000 đồng, 03 cây mít x 180.000 đồng/cây trị giá 540.000 đồng, 12 cây cau x 200.000 đồng/cây trị giá 2.400.000 đồng, 01 cây hồng xiêm trị giá 180.000 đồng (do ông Đỗ Văn T1 trồng), tổng 25.357.000 đồng. Tạm giao cho bà Đỗ Thị T tiếp tục quản lý khai thác phần diện tích đất mương 13,2 m² theo hình A34A35A13A12 sơ đồ 1, trên đất có 02 trụ cây thanh long x 228.000 đồng/trụ cây trị giá 456.000 đồng, 04 cây cau x 200.000 đồng/cây trị giá 800.000 đồng, tổng 1.256.000 đồng, đến khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi hoặc hợp thức hóa thủ tục về quyền sử dụng đất. Tổng trị giá di sản bà T được hưởng là 955.700.000 đồng (chín trăm năm mươi lăm triệu bẩy trăm nghìn đồng). Trị giá tường bao, cây trồng trên đất của vợ chồng ông T1, bà T được chia là 26.613.000 đồng.
Bà T phải thanh toán trả cho ông T1 số tiền vượt quá kỷ phần được hưởng là 7.850.000 đồng và trị giá tường bao, cây trồng trên đất là 26.613.000 đồng. Bà T phải thanh toán trả cho ông T2 số tiền vượt quá kỷ phần được hưởng là 69.950.000 đồng.
Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 357 Bộ luật dân sự và Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Các đồng thừa kế phải xây tường bao để ngăn cách giữa bất động sản được chia.
Trường hợp đường ranh giới đi vào tài sản hoặc cây cối trên đất của ai thì người đó có trách nhiệm chặt bỏ hoặc tháo dỡ.
Các đương sự tự mở lối đi và có trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sử dụng đất và phải chấp hành đầy đủ quy định của Pháp luật trong quá trình sử dụng bất động sản được chia.
( Việc phân chia quyền sử dụng đất là di sản thừa kế có sơ đồ kèm theo)
-
Về công sức:
-
Về chi phí thẩm định, định giá tài sản:
Bà T yêu cầu các đồng thừa kế phải hoàn trả cho bà số tiền tạm ứng chi phí thẩm định, định giá bà đã nộp. Căn cứ vào khoản 1,2 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1,2 Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu của bà T có cơ sở, được chấp nhận.
Căn cứ vào phiếu thu, phiếu chi, tổng số tiền bà T đã chi phí là 11.000.000 đồng, ông T1, ông T2 phải hoàn trả cho bà T 3.666.000 đồng.
-
Về án phí:
Ông T1 là người cao tuổi và có đơn đề nghị được miễn tiền án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí cho ông T1.
Bà T có Đơn xin miễn án phí dân sự vì lý do bệnh hiểm nghèo. Đối chiếu quy định của pháp luật, bà T không thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định. Bà T, ông T2 phải chịu án phí sơ thẩm dân sự theo quy định pháp luật. Bà T được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1,2 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1,2 Điều 165, khoản 1 Điều 166 ; điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 229, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660, khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 103 Luật đất đai năm 2013; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Đỗ Văn T3, cụ Vũ Thị M theo quy định của pháp luật.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đỗ Văn T1 không yêu cầu các đồng thừa kế phải thanh toán công sức trông coi, quản lý di sản.
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự chỉ yêu cầu giải quyết di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở, đất ao đã san lấp tại thửa 63, 64 tờ bản đồ số 07 xã P, huyện K theo hồ sơ đất năm 2001 và đất nông nghiệp ở xứ đồng cống Cộc, thôn D, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương.
- Xác định phần đất ngõ diện tích 100,5m² (trong đó có 92 m² đất của ông T1 theo hình A1A2A3A4A5A6A7A8A9A29A28A30 và 8,2 m² đất thủy lợi của xã theo hình A) đi vào quyền sử dụng đất phía trong của nhà ông T1, bà D, các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xét.
- Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự lấy sơ đồ, diện tích, kích thước, hình thể đo thực tế ngày 26/4/2023 và vị trí, hình thể quyền sử dụng đất là di sản thừa kế theo hồ sơ đất năm 2001 của UBND xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương để làm căn cứ phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở, đất vườn.
- Áng trích công sức tôn tạo, trông coi quản lý di sản cho ông Đỗ Văn T1, bà Đặng Thị D bằng quyền sử dụng 20,5 m² đất ở trị giá 112.750.000 đồng từ di sản của cụ M, cụ T3 tại thửa 64 tờ bản đồ số 07 thôn D, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T1, bà D nhập số tài sản sản được chia vào kỷ phần thừa kế ông T1 được hưởng.
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ M, cụ T3 là ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Văn Trọng T2, bà Đỗ Thị T
- Xác định di sản thừa kế của cụ M, cụ T3 sau khi trừ đi phần áng trích công sức cho vợ chồng ông T1 20,5 m² đất, còn lại là 429 m² đất ở trị giá 2.359.500.000 đồng, 45 m² ao đã san lấp (liền thổ với đất ở) trị giá 121.500.000 đồng, 509 m² đất nông nghiệp ở xứ đồng cống Cộc trị giá 152.700.000 đồng, tổng trị giá di sản là 2.633.700.000 đồng .
- Xác định mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng là 877.900.000 đồng
-
Chia bằng hiện vật:
Chia cho ông Đỗ Văn T1, được hưởng 201,6 m² đất trị giá 982.800.000 đồng (trong đó có 45 m² đất ao đã san lấp liền thổ với đất ở trị giá 121.500.000 đồng, 136,1 m² đất ở trị giá 748.550.000 đồng là phần di sản ông T1 được hưởng, 20,5 m² đất ở trị giá 112.750.000 đồng là phần áng trích công sức san lấp, tôn tạo, phát triển di sản) tại thửa 63, 64 tờ bản đồ số 7 xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương theo hình A29A30A31A32 Sơ đồ 1 (trên đất có một số cây do vợ chồng ông T1 trồng). Tạm giao cho ông Đỗ Văn T1 tiếp tục quản lý khai thác phần diện tích đất mương 16,6 m² theo hình A11A33A32A29 sơ đồ 1 (trên đất có một số cây do ông T1 trồng), đến khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi hoặc hợp thức hóa thủ tục về quyền sử dụng đất.
Chia cho ông Đỗ Văn T2 được hưởng 146,9 m² đất ở trị giá 807.950.000 tại thửa 64 tờ bản đồ số 7 xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương theo hình A32A31A20A35 Sơ đồ 1, trên đất có một số công trình là di sản của cụ T3, cụ M các đương sự không yêu cầu giải quyết và 22 trụ cây thanh long x 228.000 đồng/01 trụ cây trị giá 5.016.000 đồng, 02 cây na x 70.000 đồng/cây trị giá 140.000 đồng, 01 cây mít trị giá 180.000 đồng do ông Đỗ Văn T1 trồng, tổng trị giá cây là 5.336.000 đồng. Tạm giao cho ông Đỗ Văn T2 tiếp tục quản lý khai thác phần diện tích đất mương 13,8 m² theo hình A32A33A34A35 sơ đồ 1, trên đất có 04 trụ cây thanh long x 228.000 đồng/trụ cây trị giá 912.000 đồng, 04 cây cau x 200.000 đồng/cây trị giá 800.000 đồng do ông T1 trồng, tổng 1.712.000 đồng, đến khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi hoặc hợp thức hóa thủ tục về quyền sử dụng đất. Ông Đỗ Văn T2 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Đỗ Văn T1 giá trị tiền cây trên đất là 7.048.000 đồng.
Chia cho bà Đỗ Thị T được hưởng 509 m² đất nông nghiệp khu cánh đồng cống Đìa, thôn D, xã P, huyện K theo hình A1A2A3A4 sơ đồ 2, hình A4A5A6A7 sơ đồ 3 trị giá 152.700.000 đồng và 146 m² đất ở tại thửa 64 tờ bản đồ số 7, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương trị giá 803.000.000 đồng theo hình A35A20A19A17A16A15A14A13 Sơ đồ 1, trên đất có tường bao do ông T1 xây dựng trị giá 18.625.000 đồng, 14 trụ cây thanh long x 228.000 đồng/trụ cây trị giá 3.192.000 đồng, 06 cây na x 70.000 đồng/cây trị giá 420.000 đồng, 03 cây mít x 180.000 đồng/cây trị giá 540.000 đồng, 12 cây cau x 200.000 đồng/cây trị giá 2.400.000 đồng, 01 cây hồng xiêm trị giá 180.000 đồng (do ông Đỗ Văn T1 trồng), tổng 25.357.000 đồng. Tạm giao cho bà Đỗ Thị T tiếp tục quản lý khai thác phần diện tích đất mương 13,2 m² theo hình A34A35A13A12 sơ đồ 1, trên đất có 02 trụ cây thanh long x 228.000 đồng/trụ cây trị giá 456.000 đồng, 04 cây cau x 200.000 đồng/cây trị giá 800.000 đồng, tổng 1.256.000 đồng, đến khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi hoặc hợp thức hóa thủ tục về quyền sử dụng đất. Tổng trị giá di sản bà T được hưởng là 955.700.000 đồng (chín trăm năm mươi lăm triệu bẩy trăm nghìn đồng). Trị giá tường bao, cây trồng trên đất của vợ chồng ông T1, bà T được chia là 26.613.000 đồng.
Bà T phải thanh toán trả cho ông T1 số tiền vượt quá kỷ phần được hưởng là 7.850.000 đồng, trị giá tường bao, cây trồng trên đất là 26.613.000 đồng. Bà T phải thanh toán trả cho ông T2 số tiền vượt quá kỷ phần được hưởng là 69.950.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền trên mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Các đồng thừa kế phải xây tường bao để ngăn cách giữa bất động sản được chia.
Trường hợp đường ranh giới đi vào tài sản hoặc cây cối trên đất của ai thì người đó có trách nhiệm chặt bỏ hoặc tháo dỡ.
Các đương sự tự mở lối đi và có trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sử dụng đất và phải chấp hành đầy đủ quy định của Pháp luật trong quá trình sử dụng bất động sản được chia.
( Việc phân chia quyền sử dụng đất là di sản thừa kế có sơ đồ kèm theo)
-
Về chi phí thẩm định, định giá:
Buộc ông Đỗ Văn T1, ông Đỗ Văn T2 mỗi người phải hoản trả cho bà Đỗ Thị T 3.600.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản.
-
Về án phí:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đỗ Văn T1.
Ông Đỗ Văn T2 phải nộp 38.337.000 đồng.
Bà Đỗ Thị T phải nộp 38.337.000 đồng đối trừ 12.000.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001840 ngày 20/12/2023 và 1.000.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002025 ngày 16/5/2024. Bà Đỗ Thị T còn phải nộp tiếp 25.337.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mạc Duy Phu (đã ký) |
Bản án số 21/2024/DS - ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về chia di sản thừa kế theo pháp luật
- Số bản án: 21/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Chia di sản thừa kế theo pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chia di sản thừa kế theo pháp luật
