|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 16 tháng 9 năm 2024
V/v: “Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Trưởng và ông Nguyễn Văn Thìn.
Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Chí - Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Thực - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 26/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị T có mặt, anh N vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/6/2024 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Năm 2003 chị và anh Nguyễn Văn N có thời gian tự nguyện tìm hiểu và được tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Sau đó hai bên chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau đó vợ chồng ở chung cùng với gia đình anh N một thời gian thì vợ chồng ở riêng. Vợ chồng hòa thuận sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau, gia đình không được hòa thuận hạnh phúc mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng vợ chồng không quan tâm chăm sóc đến nhau nữa. Vì vậy, chị T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tuyên bố chị với anh Nguyễn Văn N không phải là vợ chồng.
Về con chung:
Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 03 (Ba) con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 05/10/2004, cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 21/9/2009 và cháu Nguyễn Văn H1 sinh ngày 04/7/2014. Sau khi ly hôn đối với cháu H đã thành niên cháu ở với ai là quyền của cháu, còn cháu M và cháu H1, chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng vì theo nguyện vọng của hai cháu xin được ở với chị.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng:
Chị T không yêu cầu đề nghị tòa án giải quyết.
[2]. Về phía bị đơn: Anh Nguyễn Văn N đã được tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh N đều vắng mặt không có lý do Tòa án đã tiến hành xác minh và đã niêm yết các văn bản tố tụng tại UBND xã T cũng như tại khu hành chính nơi anh N đang cư trú. Tại phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
[3]. Quan điểm của đại diện UBND xã T:
Tại Biên bản làm việc ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn với đại diện UBND xã T, địa phương cung cấp như sau: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N đều đăng ký thường trú tại khu A, xã T. Tuy nhiên anh N thường xuyên vắng mặt tại địa phương.
Về tình trạng hôn nhân:
Chị T và anh N có chung sống với nhau một thời gian tuy nhiên qua rà soát sổ sách được lưu giữ tại địa phương thì anh, chị chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Nay chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận chị với anh Nghĩa L vợ chồng, UBND xã T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung:
chị T và anh N có 03 (Ba) con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 05/10/2004, cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 21/9/2009 và cháu Nguyễn Văn H1 sinh ngày 04/7/2014. Đối với cháu H đã thành niên cháu ở với ai là quyền của cháu, còn cháu M và cháu H1 còn nhỏ nên đề nghị Toà án giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các cháu.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp:
Chị T không đề nghị Toà án giải quyết nên địa phương không có ý kiến gì.
[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật; Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N1 sống chung với nhau như vợ chồng kể từ năm 2003 không đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh Nghĩa L trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình xử không công nhận là vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N.
Về con chung:
Chị T và anh N có 03 (Ba) con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 05/10/2004, cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 21/9/2009 và cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/7/2014. Đối với cháu H đã thanh niên cháu ở với ai là quyền của cháu, còn hai cháu M và cháu H1 theo nguyện vong hai cháu xin được ở với chị T, do đó cần giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu là phù hợp. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
Đối với quan hệ về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp:
Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết và Bị đơn vắng mặt không có quan điểm trình bày. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Về án phí dân sự:
chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh Nguyễn Văn N. Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho anh N, tuy nhiên hết thời hạn niêm yết, anh N vẫn không có mặt để trình bày quan điểm. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị T có mặt; anh N vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2].Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Năm 2003, chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N được tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương nhưng hai bên không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định, kể từ thời điểm đó chị T anh N chung sống với nhau như vợ chồng.
Tại khoản 1 Điều 9 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Như vậy căn cứ quy định được viện dẫn nêu trên, đối chiếu với sự kiện pháp lý phát sinh giữa chị T và anh N thì quan hệ hôn nhân giữa anh chị chưa được pháp luật thừa nhận. Mặt khác, trong quá trình chung sống như vợ chồng, hai bên có phát sinh mâu thuẫn. Anh, chị đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023 đến nay hai bên không còn quan tâm trăm sóc đến nhau nữa.
Xét thấy, chị T và anh N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 mà không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định và đến nay anh chị cũng chưa đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn . Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ giữa chị T và anh N không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Nay chị T yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh N, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 53 của luật Hôn nhân và gia đình 2014.
2.2. Về con chung:
Quá trình chung sống anh chị có 03 (Ba) con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 05/10/2004, cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 21/9/2009 và cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/7/2014. Sau khi ly hôn, đối với cháu H đã thành niên tự lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét. Còn đối với cháu M và cháu H1, chị T đề nghị được nuôi dưỡng các cháu, đồng thời nguyện vọng của các cháu muốn được ở với mẹ nên cần xem xét nguyện vọng chính đáng này, giao cháu M và cháu H1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
2.3. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng:
Chị T không đề nghị tòa án giải quyết các quan hệ nêu trên, đồng thời anh N vắng mặt không có quan điểm trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này chị T, anh N có yêu cầu thì anh; chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Cháu Nguyễn Văn H đã thành niên tự lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét. Giao cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 21/9/2009 và cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 14/7/2014 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 9/2024 đến khi hai cháu khôn lớn thành niên. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với hai cháu nhưng được quyền đi lại thăm gặp con chung không ai được ngăn cấm cản trở.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004660 ngày 05/6/2024. Nay được chuyển thành án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án lên tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Chí |
5
6
Bản án số 21/2024/HNGĐ - ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T khởi kiện ly hôn anh N
