|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI TỈNH NGHỆ AN Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST Ngày 19 – 8 – 2024 V/v: Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Trọng.
Bà Nguyễn Thị Huệ.
- Thư ký phiên toà: Ông Cao Trọng Sơn – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đào Giang Lệ – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H: Bà Hồ Thị L – Luật sư Công ty L1 và Cộng sự. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị H; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H thống nhất trình bày:
Về hôn nhân: Bà H và ông Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 06/8/2010 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Q, (Nay là Ủy ban nhân dân phường M, thị xã H), tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận cho đến năm 2018, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Hiện nay, vợ chồng không còn tình cảm nên bà đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông Nguyễn Văn N không có con chung. Vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà H và ông Nguyễn Văn N tạo lập được các tài sản gồm: Thửa đất số 130, tờ bản đồ 31; diện tích 521,6m² tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Các tài sản trên đất: Nhà cấp 4, 2 gian; nhà bếp, công trình phụ; diện tích xây dựng khoảng 150m². Ngoài ra, vợ chồng còn xây dựng bể cạn, giếng nước, chuồng chăn nuôi, xây tương bao và làm mái tôn xốp trước sân nhà. Ly hôn, bà H đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chug của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Bà H xin nhận một phần đất để xây dựng nhà ở cho mẹ con bà sau này. Còn các tài sản sinh hoạt, đồ dùng trong nhà, gồm có: ti vi, tủ chè, giường, xe máy, bàn ghế.... bà H và ông N sẽ tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N có nợ: Chị Nguyễn Thị T số tiền 58.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị H1: 45.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với khoản nợ của chị T và chị H1; chị T, chị H1 cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ nêu trên.
Nợ chị Nguyễn Thị H2 số tiền 20.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà H, ông N đã thanh toán khoản nợ trên cho chị H2 và chị H2 cũng không có yêu cầu gì thêm.. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ôngNguyễn Văn Năm trình bày:
Về hôn nhân: Ông thừa nhận về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như bà H đã trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau bình thường, đến khoảng tháng 10/2021 thì nảy sinh mâu thuẫn trong gia đình giữa con chồng, mẹ kế. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2021 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay ông thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà H làm đơn xin ly hôn thì ông cũng hoàn toàn đồng ý, đề nghị Tòa án xem xét gải quyết.
Về con chung: Ông và bà H không có con chung. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Sau khi kết hôn thì vợ chồng ông có xây dựng một ngôi nhà cấp và công trình phụ liền kề. Đến năm 2021 thì vợ chồng ông có lợp mái tôn che trước sân được xây dựng trên thửa đất 130, tờ bản đồ 31; diện tích 521,6m² tại TDP Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Một chuồng gà; một chuồng lợn. Những tài sản này, ông yêu cầu chia đôi.
Ngoài ra còn có: 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA màu đỏ đen BKS 37L1-555.63 đăng ký năm 2015 mang tên Nguyễn Văn N; 01 xe máy nhãn hiệu CUPINDO màu vàng đăng ký năm 2018 mang tên Nguyễn Thị H; 01 máy giặt; 01 tủ lạnh; 01 máy lọc nước... Những tài sản này ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về đất ở: Ông có tài sản riêng là thửa đất 130, tờ bản đồ 31; diện tích 521,6m² tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An đất thầu khoán của nhà nước chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản riêng của ông nên không được chia và ông cũng không đồng ý trích công sức tôn tạo thửa đất trên cho bà H.
Ngoài ra, ông N yêu cầu Tòa án chia số tiền gửi tiết kiệm 110.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 08/9/2023, ông Nguyễn Văn N1 đã có đơn rút yêu cầu, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tiền nêu trên.
Tại phiên tòa, các đương sự giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Áp dụng các điều 28, 35, 39, 147 khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sư; Điều 37, 51, 56, 57, 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N được ly hôn.
- Về tài sản chung: Giao cho ông Nguyễn Văn N được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất số 130, tờ bản đồ số 31, diện tích 521,6m2 tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Buộc ông Nguyễn Văn N phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền: 171.641.000 đồng. Trong đó: 85.335.000 đồng (trích chênh lệch trị giá tài sản trên đất) + 21.000.000 đồng (tiền thuê nhà, tạo lập nơi ở mới) + 65.306.400 đồng (công sức tôn tạo đất) .
- Về nợ chung:
+ Đình chỉ giải quyết yêu cầu trả nợ của bà Nguyễn Thị H đối với khoản nợ của chị Nguyến Thị T1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2.
+ Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn N đối với số tiền 110.000.000 đồng.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí chia tài sản theo quy định của pháp luật. Miễn toàn bộ án phí chia tài sản chung cho ông Nguyễn Văn N. Trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N mỗi người phải phải chịu ½ chi phí tố tụng theo quy định. Do bà Nguyễn Thị H đã nộp số tiền 7.677.000 đồng (đã thực hiện xong), vì vậy cần buộc ông Nguyễn Văn N phải trả lại cho bà Hằng số tiền 7.677.000 đồng : 2 = 3.838.500 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự đều có mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo đúng quy định.
[2]. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M (nay là phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An) vào ngày 06/8/2010 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm; mâu thuẫn giữa mẹ kế với con riêng của chồng, không hòa hợp; mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện tại, bà H và ông N đều khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất yêu cầu Tòa án cho bà H và ông N được ly hôn. Xét thấy, việc vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
[3]. Về con chung: Bà H và ông N thống nhất trình bày vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N đã thống nhất được với nhau về các tài sản chung như sau: Vợ chồng có 02 ngôi nhà cấp 4, 2 gian; 02 nhà bếp, công trình phụ; diện tích xây dựng khoảng 150m² được xây dựng trên thửa đất 130, tờ bản đồ số 31 tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An. (Các tài sản trên đất đã được xem xét thẩm định và định giá tài sản ngày 12/7/2023). Trị giá toàn bộ tài sản là 170.670.000 đồng. Quá trình hòa giải, bà H và ông N thống nhất thỏa thuận: Ông Nguyễn Văn N được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ tài sản trên thửa đất 130, tờ bản đồ số 31 tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An, có tổng trị giá 170.670.000 đồng. Ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ thanh toán trị giá tài sản bằng tiền cho bà Nguyễn Thị H với số tiền 85.335.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà H đề nghị phân chia tài sản cho bà được hưởng phần nhiều hơn do bà có công sức đóng góp nhiều hơn trong khối tài sản chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống, bà H, ông N đã cùng nhau tạo lập nên được các tài sản nêu trên, bà H cho rằng bà đóng góp nhiều hơn nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc bà đóng gọp nhiều hơn; ông N cho rằng vợ chồng có đóng góp ngang bằng nhau. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thu thập, xét thấy, mức độ đóng góp xây dựng trong khối tài sản là ngang nhau. Vì vậy, cần chia đôi số tài sản chung nêu trên là có căn cứ.
Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, ông N là người trực tiếp sử dụng, quản lý các tài sản chung nêu trên. Vì vậy, cân giao lại toàn bộ tài sản chung trên đất cho ông N được quyền sở hữu, sử dụng và buộc ông N phải trích lại số tiền trị giá tài sản cho bà H là phù hợp.
Trong quá trình tòa án giải quyết vụ án thì bà H đã không cùng chung sống với ông N. Hiện tại bà H chưa có nơi ở mới, phải thuê nhà sinh sống tại thành phố V mỗi tháng 3,500.000 đồng. Vì vậy, cần buộc ông N hỗ trợ bà H tạo lập nơi ở mới với số tiền 3.500.000 đồng/tháng x 6 tháng = 21.000.000 đồng.
[5]. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc xác định thửa đất số 130, tờ bản đồ số 31, diện tích 521,6m2 tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An (thửa đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là tài sản chung của vợ chồng. Xét về nguồn gốc của thửa đất được hình thành trước thời kỳ hôn nhân giữa bà H và ông N; ông N không thừa nhận thửa đất đó là tài sản chung của vợ chồng; bà H cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh được thửa đất trên là tài sản chung của vợ chồng. Do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà H về việc xác định thửa đất nêu trên là tài sản chung để phân chia. Tuy nhiên; sau khi bà H kết hôn với ông N (năm 2010) thì bà H và ông N có cải tạo khai hoang mở rộng thêm diện tích đất so với trước đó, nhưng không xác định được bao nhiêu mét vuông so với trước; việc khai hoang mở rộng thêm diện tích đất có xác nhận của chính quyền địa phương; ngoài ra trong 10 năm chung sống bà H đã có công sức đóng góp, tôn tạo làm tăng thêm giá trị đất. Vì vậy, cần trích một phần công sức tôn tạo cho bà H bằng 1/10 giá trị đất là phù hợp, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Tại văn bản số 32/UBND ngày 15/5/2024 của UBND phường M, thị xã H khẳng định: Thửa đất số đất số 130, tờ bản đồ số 31, diện tích 521,6m2; địa chỉ thửa đất tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An một phần là đất ở, đủ diều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đủ điều kiện cấp loại đất ở khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 19 – Chương III – Quyết định số 28/2021/QĐ-UBND tỉnh N ngày 17 tháng 9 năm 2021 và một phần thuộc đất nông nghiệp. (Lưu ý: Hạn mức đất ở của ông Nguyễn Văn N khi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không vượt quá 200m²). Như vậy, có thể hiểu là trong 521,6m² đất nêu trên thì có hạn mức đất ở là 200m² và 321,6m² đất nông nghiệp.
Tại Biên bản định giá tài sản ngày 23/11/2023, xác định giá đất ở là 3.000.000 đồng/m2; giá đất nông nghiệp là 165.000 đồng/m2. Trị giá đất ở là 200m² x 3.000.000 đồng/m² = 600.000.000 đồng; đất nông nghiệp 321,6m² x 165.000 đồng/m² = 53.064.000 đồng. Tổng trí giá tiền đất là 653.064.000 đồng. Như vậy, ông N phải có nghĩa vụ trích công sức tôn tạo làm tăng giá trị đất cho bà H bằng 1/10 tổng trị giá tiền đất là 65.306.400 đồng.
Tạm giao cho ông Nguyễn Văn N sử dụng toàn bộ thửa đất số 130, tờ bản đồ số 31, diện tích 521,6m2 tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Như vậy, tổng số tiền ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ phải giao cho bà Nguyễn Thị H là 85.335.000 đồng (tiền trị giá tài sản trên đất) + 21.000.000 đồng (tạo lập nơi ở mới) + 65.306.400 đồng (công sức tôn tạo đất) = 171.641.000 đồng.
[6] Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn N về việc chia đôi số tiền 110.000.000 đồng trong Sổ tiết kiệm. Tuy nhiên, ngày 08/9/2023, ông Nguyễn Văn N1 đã có đơn rút yêu cầu. Vì vậy, cần đình chỉ yêu cầu giải quyết đối với số tiền nêu trên.
[7] Về nợ chung: Tại đơn khởi kiện, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết đối với khoản nợ của chị Nguyễn Thị T số tiền 58.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị H1 số tiền 45.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án; bà H, chị T, chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ nêu trên. Vì vậy, cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu nêu trên.
Ngoài ra bà H, ông N còn nợ chị Nguyễn Thị H2 số tiền 20.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà H, ông N đã thanh toán khoản nợ trên cho chị H2. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết dối với khoản nợ của chị H2. Chị H2 cũng không có yêu cầu gì thêm. Vì vậy, cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu nêu trên.
[8]. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí ly hôn: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
- Về án phí chia tài sản chung:
+ Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí chia tài sản chung. Trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
+ Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí chia tài sản chung đối với phần trị giá tài sản được chia là 150.641.000 đổng = 7.532.050 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N mỗi người phải phải chịu ½ chi phí tố tụng theo quy định. Do bà Nguyễn Thị H đã nộp số tiền 7.677.000 đồng (đã thực hiện xong), vì vậy cần buộc ông Nguyễn Văn N phải trả lại cho bà Hằng số tiền 7.677.000 đồng (:) 2 = 3.838.500 đồng.
[9]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 33, 37, 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N được ly hôn.
- Về tài sản chung:
- Giao cho ông Nguyễn Văn N được sở hữu toàn bộ tài sản trên thửa đất số 130, tờ bản đồ số 31, diện tích 521,6m2 tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
- Tạm giao cho ông Nguyễn Văn N được sử dụng toàn bộ thửa đất số 130, tờ bản đồ số 31, diện tích 521,6m2 tại Tổ dân phố Y, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
- Buộc ông Nguyễn Văn N phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền 171.641.000 đồng.
- Về nợ chung:
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu trả nợ của bà Nguyễn Thị H đối với khoản nợ của chị Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn N đối với số tiền 110.000.000 đồng.
- Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và 7.532.050 đồng án phí chia tài sản chung, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 38.107.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003619 ngày 16/11/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Hằng s tiền 30.274.500 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
- Miễn toàn bộ án phí chia tài sản chung cho ông Nguyễn Văn N. Trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền 2.750.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002758 ngày 28/8/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
- Về chi phí tố tụng:
- Bà Nguyễn Thị H phải chịu 3.838.500 đồng chi phí tố tụng (đã thực hiện xong).
- Ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hằng s tiền 3.838.500 đồng chi phí tố tụng.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Mạnh |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hằng - Năm
