|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS-PT Ngày 17-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Biên Hòa
Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Sơn
Ông Hoàng Văn Thụ
Thư ký phiên toà: Ông Nông Thế Hiếu, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà:
Bà Nông Diệu Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 17/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Triệu Trung H do có kháng cáo của bị cáo đối với một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST ngày 12 tháng 03 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Bị cáo có kháng cáo: Triệu Trung H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 14/01/2003 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm E, B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Triệu L, sinh năm 1971 và bà Bế Thị H1, sinh năm 1971; Vợ con: Không có; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện nay đang được tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Văn B – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại không kháng cáo:
- + Lương Công Đ, sinh năm 1949; Trú tại: phố C, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Mã Văn T, sinh năm 1987; Trú tại: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 27/7/2023 sau khi uống rượu cùng bạn tại khu vực quảng trường K phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Triệu Trung H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 11H1-093.47 đi từ khu vực K phường Đ, thành phố C về huyện H, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến Km41+830 đường H ngã tư giao cắt đường C đi chùa Đ1 thuộc xóm H, xã H, thành phố C thì xảy ra va chạm với xe đạp mini thống nhất màu xanh trắng do Lương Công Đ điều khiển cắt ngang đường H theo hướng chợ C sang chùa Đ1. Sau va chạm Triệu Trung H thấy nhiều người đến xem và dìu Lương Công Đ vào vỉa hè, lo sợ bị người nhà của Đ đánh nên H dựng xe lên và tiếp tục di chuyển theo hướng đi huyện H. Khi đi đến Km40+80 đường H đoạn dốc Bản Thảnh thuộc xóm H, xã H, thành phố C (cách vị trí va chạm với Lương Công Đ khoảng 500m) H tiếp tục đâm vào đuôi xe mô tô biển kiểm soát: 11H1-0822 do Mã Văn T điều khiển đang đi phía trước cùng chiều với H. Sau tai nạn Triệu Trung H, Mã Văn T, Lương Công Đ đều được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh C, các phương tiện bị hư hỏng sau tai nạn.
Hiện trường thứ nhất: Kết quả khám nghiệm hồi 19h45 ngày 27/7/2023 tại ngã tư giữa km41 + 830 đường H giao với đường từ chùa Đ1 đến chợ C thuộc xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, xác định: Hiện trường được nhìn thống nhất từ thành phố C đến huyện H. Đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng có chiều hướng dốc lên từ thành phố C đến H, có vạch kẻ sơn mắt võng màu vàng tại giữa ngã tư, có vạch kẻ sơn vàng gờ giảm tốc tại 2 đầu ngã tư và vạch kẻ sơn trắng là đường dành cho người đi bộ tại 2 đầu ngã tư. Lấy mép đường bên phải là (+), bên trái (-) có chiều hướng của xe mô tô BKS: 11H1 – 093.47 từ thành phố C đến H, có chiều hướng của xe đạp từ chợ C đến chùa Đ1. Lòng đường H rộng 7m34cm, có vạch kẻ sơn vàng cách quãng phân cách giữa đường, lòng đường Cao Bình rộng 5m20cm; lòng đường đi chùa Đ1 rộng 4m66cm.
Lấy cột mốc số 48/41 nằm trên lề đường bên trái hướng từ thành phố C đến H làm biển mốc, ký hiệu là (C); Lấy vạch kẻ sơn vàng cách quãng phân cách giữa đường là (I); Lấy (A) là tâm vạch kẻ mắt võng giữa ngã tư, lấy mép đường bên phải hướng từ thành phố C đến H làm chuẩn để đo các dấu vết kí hiệu là (+).
Vị trí các dấu vết lần lượt như sau:
- Vết (1) là vết cày màu trắng trên mặt đường của trục giữ bánh trước của xe đạp. Có kích thước 3cm x 4cm.
+ Tâm vết (1) cách mép đường bên (+) 3m05cm, cách đầu vết (2) 87cm. Cách (A) 4m33cm, cách (I) 39cm, cách điểm mốc (C) 27m68cm.
- Vết (2) là đám vết cày của xe mô tô BKS: 11H1 – 093.47 trên mặt đường có màu trắng, đứt quãng chiều hướng từ thành phố C đến H có kích thước 33m57cm x 5cm.
+ Đầu vết (2) cách mép đường bên (+) 2m20cm, cách (A) 4m58cm, cách (I) 1m28cm, cách điểm mốc (C) 28m02cm.
+ Cuối vết (2) cách mép đường bên (+) 89cm, cách điểm mốc (C) 11m12cm.
Hiện trường thứ hai: Kết quả khám nghiệm hồi 21 giờ 15 ngày 27/7/2023 tại Km41 + 80 đường H thuộc địa phận xóm H, xã H, thành phố C, xác định: Hiện trường được nhìn thống nhất từ thành phố C đến H, lấy mép đường bên phải là (+), mép đường bên trái là (-). Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thẳng và hơi dốc từ thành phố C đến H; Mặt đường phẳng, tầm nhìn không bị che khuất. Lòng đường rộng 7m30cm, mặt đường có vạch kẻ sơn vàng đứt quãng phân cách giữa đường, có vạch kẻ vàng gờ giảm tốc và vạch kẻ sơn trắng dành cho người đi bộ ở ngang đường. Phía bên lề đường bên (+) có vạch kênh hóa dòng xe dạng gạch chéo và đường đo chùa Đ1. Theo chiều hướng của xe ô tô BKS: 11H1 - 093.47 và xe mô tô BKS: 11H1-0822 từ thành phố C đến H.
Lấy cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên nằm trên lề đường bên trái hướng từ thành phố C đến H làm biển mốc, ký hiệu là (*); Lấy vạch kẻ sơn vàng cách quãng phân cách giữa đường là (I); Lấy mép đường đến H làm chuẩn để đo các đầu vết kí hiệu là (+).
Có vị trí các dấu vết lần lượt như sau:
- Vết (1) là vết cày màu trắng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến H, kích thước 48cm x 1,5cm.
+ Đầu vết (1) cách mép đường bên (+) 1m89cm, cách (I) 1m82cm, cách điểm mốc (*) 7m50cm, cách đầu vết (2) 26cm.
+ Cuối vết (1) cách mép đường bên (+) 1m83cm, cách (I) 1m85cm, cách điểm mốc (*) 7m61cm.
- Vết (2) là vết cày màu trắng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến H, kích thước 45cm x 2cm.
+ Đầu vết (2) cách mép đường bên (+) 1m96cm, cách (I) 1m79cm, cách điểm mốc (*) 7m50cm, cách đầu vết (3) 4m49cm.
+ Cuối vết (2) cách mép đường bên (+) 1m92cm, cách (I) 1m78cm, cách điểm mốc (*) 7m49cm.
- Vết (3) là vết cày màu trắng đứt quãng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến H, kích thước 5m35cm x 1cm.
+ Đầu vết (3) cách mép đường bên (+) 2m13cm, cách (I) 1m96cm, cách điểm mốc (*) 7m85cm.
+ Cuối vết (3) cách mép đường bên (+) 1m73cm, cách (I) 1m96cm, cách điểm mốc (*) 11m34cm.
- Vết (4) là vết cày màu trắng đứt quãng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến H chếch về lề đường bên (+) có kích thước 15m82cm x 1,5cm.
+ Đầu vết (4) cách mép đường bên (+) 95cm, cách (I) 2m64cm, cách đầu vết (5) 24cm, cách điểm mốc (*) 12m34cm.
+ Cuối vết (4) cách mép đường bên (+) 80cm, cách điểm mốc (*) 26m95cm.
- Vết (5) là vết cày màu trắng đứt quãng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến H. Có kích thước 6m46cm x 1cm.
+ Đầu vết (5) cách mép đường bên (+) 1m13cm, cách (I) 2m74cm, cách đầu vết (6) 1m14cm, cách điểm mốc (*) 12m39cm.
+ Cuối vết (5) cách mép đường bên (+) 39cm, cách (I) 2m74cm, cách điểm mốc (*) 18m36cm.
- Vết (6) là vết cày màu trắng đứt quãng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến H chếch về mép đường bên (+) có kích thước 1m51cm x 1,5cm.
+ Đầu vết (6) cách mép đường bên (+) 1m72cm, cách (I) 2m03cm, cách đầu vết (7) 3m81cm, cách điểm mốc (*) 12m78cm.
+ Cuối vết (6) cách mép đường bên (+) 1m41cm, cách (I) 2m32cm, cách điểm mốc (*) 14m19cm.
- Vết (7) là vết cày màu trắng đứt quãng trên mặt đường có điểm kết thúc tại chân nhẫm trước phải xe mô tô BKS: 11H1 – 0822 có chiều hướng từ thành phố C đến H. Có kích thước: 2m45cm x 1,5cm.
+ Đầu vết (7) cách mép đường bên (+) 2m05cm, cách (I) 1m86cm, cách đầu vết (8) 1m09cm, cách điểm mốc (*) 15m88cm.
+ Cuối vết (7) cách mép đường bên (+) 2m15cm, cách (I) 1m41cm, cách điểm mốc (*) 17m96cm.
- Vết (8) là vết cày màu trắng đứt quãng trên mặt đường có điểm kết thúc tại chân nhẫm sau phải xe mô tô BKS: 11H1 – 0822 có chiều hướng từ thành phố C đến H có kích thước 1m28cm x 1cm.
+ Đầu vết (8) cách mép đường bên (+) 1m85cm, cách (I) 1m68cm, cách điểm mốc (*) 16m70cm.
+ Cuối vết (8) cách mép đường bên (+) 1m81cm, cách (I) 1m78cm, cách điểm mốc (*) 17m98cm.
Các dấu vết để lại hiện trường phù hợp với các dấu vết trên phương tiện tại hiện trường và phù hợp với biên bản khám nghiệm phương tiện 01 xe đạp màu sơn xanh trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 11H1-0822; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 11H1- 093.47.
Ngày 07/8/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 272 để xác định tỉ lệ tổn thương cơ thể của Mã Văn T. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 135/KLTTCT-TTPY ngày 11/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh C kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mã Văn T tại thời điểm giám định là 27%".
Ngày 08/9/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 317 để xác định tỉ lệ tổn thương cơ thể của Lương Công Đ. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 165/KLTTCT-TTPY ngày 21/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh C kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Công Đ tại thời điểm giám định là 78%".
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Triệu Trung H từ chối giám định thương tích.
Tại Bệnh án Ngoại khoa số: 15365 xác định định lượng Ethanol (cồn)[máu] của Triệu Trung H là 153 mg/dL. Tại Bệnh án Ngoại khoa số 15161 xác định định lượng Ethanol (cồn)[máu] của Mã Văn T là 179 mg/dL.
Ngày 17/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có yêu cầu định giá tài sản số 292 đề nghị xác định giá trị thiệt hại của 01 xe mô tô biển kiểm soát 11H1 – 0822; 01 xe mô tô biển kiểm soát 11H1 - 093.47; 01 xe đạp màu sơn xanh trắng. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 25/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
“01 xe mô tô biển kiểm soát 11H1 - 0822 nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS loại xe hai bánh, màu đen bạc, số máy: 190616, số khung 190616, xe đăng ký lần đầu ngày 05/01/2009, xe cũ đã qua sử dụng bị thiệt hại: 553.333 đồng (Năm trăm năm mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu vàng đen, số máy JF4616EY661678, biển kiểm soát 11H1 - 093.47 đăng ký lần đầu ngày 06/7/2015, đã qua sử dụng bị thiệt hại 1.883.333 đồng (Một triệu tám trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
01 xe đạp màu sơn trắng (thân xe có dán tem OSAKAR), xe đã qua sử dụng bị thiệt hại 168.000 đồng (một trăm sáu mươi tám nghìn đồng)"
Ngày 14/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 281 đề nghị giám định đoạn video ghi lại hình ảnh vụ tai nạn có bị cắt ghép chỉnh sửa về nội dung hình ảnh hay không; Tốc độ xe mô tô biển kiểm soát 11H1 - 093.47 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra va chạm là bao nhiêu. Tại Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C ngày 31/8/2023 kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh trên đoạn video gửi giám định. Tốc độ trung bình xe mô tô biển kiểm soát 11H1 - 093.47 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra va chạm là khoảng từ 73,55 (km/h) đến 74,55 (km/h).
Ngày 16/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Công văn số 942/CSĐT(ĐTTH) gửi Sở Giao thông vận tải tỉnh C để xác định Triệu Trung H đã được cấp giấy phép lái xe mô tô chưa. Tại Công văn trả lời số 2125 ngày 16/8/2023 của Sở Giao thông vận tải tỉnh C xác định Triệu Trung H không có giấy phép lái xe mô tô.
Hành vi của bị cáo đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSTP ngày 15/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Triệu Trung H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án số 61/2024/HSST ngày 12-4-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã xét xử, quyết định:
Tuyên bố bị cáo Triệu Trung H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình năm 2015 xử phạt bị cáo Triệu Trung H 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
-Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Mã Văn T 20.000.000đ.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, các bị hại.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị hại không kháng cáo; các bị hại Lương Công Đ và Mã Văn T có đơn đề nghị Tòa phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Ngày 22/4/2024 bị cáo Triệu Trung H kháng cáo một phần bản án với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo và xin được hưởng án treo.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Triệu Trung H rút một phần nội dung kháng cáo về hưởng án treo, bị cáo chỉ yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét kháng cáo giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã nêu. Đề nghị Tòa giảm hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo phải đi vay mượn anh em, họ hàng để đền bù cho các bị hại. Mẹ bị cáo mới đi chữa bệnh về, bố bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Triều theo bản án đã tuyên. Bị cáo cảm thấy rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội.
Bị hại Mã Văn T trình bày: Sau khi xét xử sơ thẩm, tôi nhất trí với bản án sơ thẩm nên không kháng cáo, bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền theo bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa bị hại Triều xin giảm hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên kháng cáo là hợp lệ. Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa, bị cáo rút một phần kháng cáo xin hưởng án treo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo bồi thường số tiền cho bị hại theo án sơ thẩm tuyên, bị hại Đ có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa bị hại T tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Triệu Trung H. Sửa Bản án Sơ thẩm số 61/2024/HSST ngày 12-4-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, giảm hình phạt cho bị cáo 06 tháng tù.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường cho bị hại Triều 20.000.000đ, 02 bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo hưởng án treo và tại phiên tòa bị hại T tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về các tình tiết giảm nhẹ đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không có lời bào chữa bổ sung.
Bị hại không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Triệu Trung H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm định tội danh là đúng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/7/2023 Triệu Trung H điều khiển xe mô tô biển kiểm sát 11H1 – 093.47 di chuyển từ quảng trường km5 thuộc phường Đ, thành phố C về huyện H, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến khu vực K+830 đường H ngã tư giao cắt đường C đi chùa Đ1 thuộc xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã xảy ra va chạm với ông Lương Công Đ đang điều khiển xe đạp đi cắt ngang đường H theo hướng chợ C sang chùa Đ1. Hậu quả ông Lương Công Đ bị tổn thương cơ thể 78%. Sau khi xảy ra tai nạn Triệu Trung H bị ngã xe, lo sợ người nhà của ông Lương Công Đ đánh nên Triệu Trung H đã dựng xe lên và tiếp tục điều khiển xe mô tô về hướng huyện H, khi đi đến Km40+80 đường H đoạn dốc Bản Thảnh thuộc xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (cách vị trí va chạm với Lương Công Đ khoảng 500m) thì tiếp tục va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 11H1 - 0822 do Mã Văn T điều khiển. Hậu quả Mã Văn T bị tổn thương cơ thể 27%. Bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ không có giấy phép lái xe, điều khiển xe không chú ý quan sát, vượt quá tốc độ và trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định dẫn đến tai nạn gây thiệt hại về sức khỏe cho 02 bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe của người khác.
Với hành vi trên, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tuyên bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với 02 tình tiết định khung quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Xét tính chất hành vi bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức được pháp luật nghiêm cấm điều khiển phương tiện không có giấy phép lái xe và lái xe trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định tuy nhiên bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, ngoài ra bị cáo chạy xe với tốc độ cao, khi đến ngã tư giao cắt thuộc khu vực nhiều phương tiện khác tham gia giao thông mà không giảm tốc độ, điều đó cho thấy bị cáo không có ý thức tôn trọng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội; áp dụng đầy đủ và chính xác các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại theo bản án sơ thẩm tuyên. Các bị hại Lương Công Đ, Mã Văn T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo và tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Mã Văn T tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng và căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo.
Xét thấy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng và ý kiến của người bào chữa, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa phần hình phạt bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mới, nên cần chấp nhận.
[4] Về án phí.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Triệu Trung H được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Triệu Trung H. Sửa phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HSST ngày 12-4-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Trung H 02 năm tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Triệu Trung H được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, không bị kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Biên Hòa |
Bản án số 21/2024/HS-PT ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 21/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Triệu Trung Hữu. Sửa phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HSST ngày 12-4-2024 của tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
