Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Dương

Thẩm phán tham gia: Ông Nguyễn Hồng Chương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Vấn, ông Nguyễn Quang Hiệp và bà Lê Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Đoàn Thùy An là Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Óng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 26-4-2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/QĐST-HS ngày 10-5-2024 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc H, sinh ngày 15-4-1983 tại tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc Q và bà Trần Thị Bích T; có vợ là chị Đào Thị H1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-12-2023 - Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Văn C là Luật sư thuộc Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ - Có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1993; địa chỉ: Buôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng

Bà Lâm Trần Kiều H2; địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.

Bà Trần Thị X; địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2020, tại thị trấn huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, Phạm Ngọc H quen biết và nảy sinh tình cảm với chị Nguyễn Thị Ngọc L. Sau nhiều lần đề nghị chị L kết hôn nhưng chị L không đồng ý, H nảy sinh ý định giết chị L rồi tự tử. Để thực hiện ý định của mình, đầu tháng 11 năm 2023, trên đường từ thành phố G, tỉnh Đắk Nông về nhà tại huyện Đ, H đã mua 01 chai thuốc cỏ cháy tại một của hàng bán thuốc trừ sâu (không rõ địa chỉ); đăng nhập vào trang Youtube tìm hiểu và đặt mua 01 khẩu súng cùng với 53 viên đạn và 02 hộp tiếp đạn với giá 20.000.000 đồng của một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi chuẩn bị xong, H bỏ 01 chai thuốc diệt cỏ, 01 con dao cán nhựa màu vàng dài 20cm, 01 khẩu súng cùng với 53 viên đạn và 02 hộp tiếp đạn bỏ trong 01 túi nilon cùng 01 lá thư tuyệt mệnh trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 48F1-276.49.

Ngày 22-11-2023, H điều khiển xe mô biển kiểm soát 48F1-276.49 đến quán C1 thuộc tổ dân phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để nói chuyện với chị L. Sau đó, H và chị L đến nhà nghỉ tại tổ dân phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thuê phòng số 06. Sau khi quan hệ tình dục, H đến khu vực nhà để xe của nhà nghỉ lấy túi ni lon đựng súng, thuốc cỏ cháy, dao, đạn trong cốp xe biển kiểm soát 48F1-276.49 mang vào phòng nhà nghỉ. Tại đây, H kéo giường chặn ngang cánh cửa ra vào để chị L không bỏ chạy ra ngoài. Sau đó, H dùng dao, súng khống chế ép chị L uống thuốc cỏ cháy, nhưng L chỉ uống được một ít, thấy vậy H giơ súng uy hiếp và lấy một chiếc gối trên giường chắn trước nòng súng bóp cò, đầu đạn bắn ra xoắn vào trong ruột gối nên không trúng chị L. Chị L bỏ chạy vào phòng vệ sinh khóa chốt cửa, H đuổi theo đạp cửa đi vào bắn vào người chị L 02 phát và tiếp tục lên đạn bóp cò nhưng súng không nổ, nghĩ súng hết đạn, H bước ra khỏi phòng vệ sinh để lấy đạn. Lúc này, chị L chạy ra giằng khẩu súng trên tay H và kêu cứu, chạy thoát ra ngoài, H khóa cửa phòng uống thuốc cỏ cháy để tự tử, sau đó H được mọi người đưa đi cấp cứu.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 618/KLTTCT-PY ngày 23-11-2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Ngọc L tại thời điểm giám định là 3%. Vật tác động và cơ chế hình thành thương tích: Vết thương mặt trong 1/3 giữa cẳng tay trái và xây xát rải rác dạng chấm mặt trước, trong 1/3 giữa dưới cẳng tay trái do hỏa khí để lại dị vật kim loại (đã mổ lấy dị vật) là vật tày, cứng, có tiết diện nhỏ: Lỗ vào mặt trong 1/3 giữa cẳng tay trái; lỗ ra vết thương chột; rãnh xuyên từ 1/3 giữa cẳng tay đến khuỷu tay trái; hướng bắn: Từ trước ra sau, từ trái qua phải; tầm bắn: Tầm gần.

Kết luận giám định số: 2486/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phân viện KHHS tại TP . kết luận: Chất lỏng màu xanh nêu ở mục 1.1 và mẫu dịch nôn ghi thu của chị Nguyễn Thị Ngọc L nêu ở mục 1.2 gửi giám định đều tìm thấy G. Glufosinate là thuốc trừ cỏ thuộc nhóm lân hữu cơ, nhóm độc II, LD50 qua miệng 1620-2000mg/Kg. Không có căn cứ để trả lời “Thuốc trừ cỏ Glufosinate khi hấp thụ vào cơ thể người có ảnh hưởng đến sức khỏe hay không, có dẫn đến tử vong hay không".

Kết luận giám định số: 2485/KL-KTHS ngày 08-12-2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Khẩu gửi giám định là khẩu súng tự chế tạo, khi bắn có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất; hiện tại khẩu súng sử dụng bắn được và thuộc vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng trên mà bắn vào cơ thể con người trong khoảng cách 02 mét đến 03 mét thì có gây sát thương (bị thương tích hoặc chết người); 02 hộp tiếp đạn là hộp tiếp đạn tự chế của loại súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mmx15,5mm, loại súng này thuộc vũ khí quân dụng; 02 hộp tiếp đạn này có thể dùng làm hộp tiếp đạn cho khẩu súng gửi đến giám định; 50 viên đạn gửi giám định là đạn cỡ 5,6mmx15,5mm; hiện tại còn sử dụng được và thuộc vũ khí thể thao. Các viên đạn này sử dụng được cho khẩu súng gửi đến giám định; 03 ống kim loại và 02 mẫu kim là vỏ đạn và đầu đạn của loại cỡ đạn 5,6mmx15,5mm; loại đạn này sử dụng cho các loại súng cỡ nòng 5,6mm như: Toz8, CM2...(thuộc vũ khí thể thao) hoặc các loại súng tự chế (thuộc vũ khí quân dụng).

Cáo trạng số: 21/CT-VKS-P1 ngày 01-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố Phạm Ngọc H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và tội “Tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Phạm Ngọc H thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố là không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Phạm Ngọc H về tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Ngọc H từ 13 đến 14 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Ngọc H từ 02 đến 03 năm tù. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu và giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phối hợp với Ban Công binh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ để tiêu hủy: 02 mẫu kim loại màu xám, kích thước 1,3mx0,5m; 30 viên đạn hình thoi, kích thước mỗi viên 2,5mmx0,5mm; 02 hộp tiếp đạn màu bạc hình hộp chữ nhật có kích thước 3cmx9cm; 03 ống kim loại màu đồng vàng có kích thước 1,5cmx0,5cm và 01 khẩu súng; tịch thu, tiêu hủy: 01 chai nhựa loại 01 lít màu xanh lá cây, nắp màu đỏ kích thước 10cmx23cm; 01 dao thái lan lưỡi bằng kim loại, đầu nhọn, cán màu vàng dài 21cm; 01 chiếc gối do không có giá trị sử dụng; tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại Iphone 11 Promax của Phạm Ngọc H đảm bảo cho công tác Thi hành án. Về bồi thường thiệt hại: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc H trình bày luận cứ: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông đã truy tố Phạm Ngọc H về tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo: Đã ly hôn, con chung phải gửi cha mẹ nuôi; nảy sinh tình cảm với người bị hại, mong muốn cùng chung sống nhưng không có kết quả (đã buồn chán và chuẩn bị công cụ để giết bạn gái, rồi cùng chết, nhưng sự việc không thành là do khách quan) để xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông đã đề nghị.

Bị cáo đồng ý với luận cứ bào chữa của luật sư, không có ý kiến gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập lưu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng công khai, phù hợp với các tình tiết diễn biến khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đầy đủ căn cứ để kết luận: Chỉ vì nguyên nhân đã nhiều lần đề nghị kết hôn nhưng chị Nguyễn Thị Ngọc L không đồng ý, đồng thời nghi ngờ chị L không chung thủy nên Phạm Ngọc H đã nảy sinh ý định giết chị L sau đó sẽ tự sát. Do đó, khoảng đầu tháng 11 năm 2023, H mua trên trang Youtube 01 khẩu súng bắn đạn chì được cơ quan chức năng kết luận là súng tự chế tạo thuộc vũ khí quân dụng, 02 hộp tiếp đạn, 53 viên đạn thể thao và chuẩn bị 01 con dao, 01 lít thuốc diệt cỏ loại Glufosinate cất giấu. Khoảng 09 giờ ngày 22-11-2023, tại nhà nghỉ thuộc tổ dân phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, H đã dùng dao, súng uy hiếp chị L uống thuốc diệt cỏ, khi chị L không uống đúng theo yêu cầu, H đã dùng súng bắn 03 viên đạn vào người chị L bị thương tích 03%. Hậu quả chị L không chết là ngoài mong muốn của bị cáo, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo H đã đặt mua súng, đạn để cất giấu với mục đích sử dụng để giết chị L, những hành vi này liên quan chặt chẽ với nhau, hành vi này là điều kiện để thực hiện hành vi kia. Như vậy, hành vi của Phạm Ngọc H đã bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông truy tố về tội “Giết người” tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại các điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 123 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

n) Có tính chất côn đồ...

Điều 304 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm”.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên được áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Giết người” và điểm s khoản 1 Điều 51 đối với tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

[4]. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn và áp dụng chế định quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt về tội “Giết người”; đồng thời áp dụng mức thấp của khung hình phạt về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” đối với bị cáo Phạm Ngọc H là thỏa đáng, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Bị cáo đã tác động người nhà bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng chi phí cứu chữa và thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015, người bị hại không có yêu cầu bồi thường khác nên không đề cập; đối với 01 điện thoại Iphone 11 Promax của Phạm Ngọc H đã thu giữ không phải là phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 khẩu súng và 02 hộp tiếp đạn màu bạc hình hộp chữ nhật; 02 mẫu kim loại màu xám, kích thước 1,3x0,5m; 30 viên đạn hình thoi, kích thước mỗi viên 2,5cmx0,5cm; 03 ống kim loại màu đồng vàng có kích thước 1,5cmx0,5cm và 01 khẩu súng, 01 chai nhựa loại 01 lít màu xanh lá cây, nắp màu đỏ kích thước 10cmx23cm; 01 dao thái lan lưỡi bằng kim loại, đầu nhọn, cán màu vàng dài 21cm, 01 chiếc gối là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy. Riêng 01 khẩu súng và 02 hộp tiếp đạn màu bạc hình hộp chữ nhật có kích thước 03x09cm (hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đang bảo quản), theo quy định tại khoản 5 Điều 66 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017; khoản 6 Điều 1 của Nghị định số: 70/2013/NĐ-CP ngày 02-7-2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý kho vật chứng ban hành kèm theo Nghị định số: 18/2002/NĐ-CP ngày 18-01-2002 của Chính phủ, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành bàn giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

1.1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 304; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Ngọc H 14 (Mười bốn) năm tù.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Ngọc H 02 (Hai) năm tù.

1.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Buộc Phạm Ngọc H chấp hành hình phạt chung của hai tội là 16 (Mười sáu) năm tù, tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08-12-2023.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp điểm a khoản 1 khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.2. Trả lại Phạm Ngọc H 01 điện thoại Iphone 11 Promax.

2.2. Tịch thu tiêu hủy: 02 mẫu kim loại màu xám, kích thước 1,3mx0,5m; 30 viên đạn hình thoi, kích thước mỗi viên 2,5cmx0,5cm; 03 ống kim loại màu đồng vàng có kích thước 1,5cmx0,5cm, 01 chai nhựa loại 01 lít màu xanh lá cây, nắp màu đỏ kích thước 10cmx23cm; 01 dao thái lan lưỡi bằng kim loại, đầu nhọn, cán màu vàng dài 21cm, 01 chiếc gối họa tiết nhiều màu.

(Các đồ vật, vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-4-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông).

2.3. Đối với 01 khẩu súng và 02 hộp tiếp đạn màu bạc hình hộp chữ nhật có kích thước 03mx09cm (hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đang bảo quản, có đặc điểm như biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 22-11-2023), sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành bàn giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Phạm Ngọc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông (2);
  • - CQ CSĐT CA tỉnh Đắk Nông (1);
  • - Phòng HSNVCS CA tỉnh Đắk Nông (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đăk Nông (2)
  • (Trong đó có 01 bản kính nhờ Trại tạm giam giao cho bị cáo Phạm Ngọc Hiển);
  • - Bị hại (01);
  • - Người bào chữa (1);
  • - Lưu: Tòa Hình sự (2), Tổ Hành chính tư pháp (1); hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Đức Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về giết người và tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người và Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc H phạm tội Giết người và tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger