Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN W

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 20 - 05 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN W, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Minh Vũ.

2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Nhường – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hoài P (Chó con), sinh ngày 09/02/1993; tại huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951; bị cáo có vợ là bà Ngô Thị Bích L1, sinh năm 1998 và có 02 người con, người lớn nhất sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: 02 tiền sự. Ngày 04/6/2019 bị Công an huyện W xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (chưa chấp hành); Ngày 14/01/2022, bị Công an xã E, huyện W ra quyết định xử phạt với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa chấp hành). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/7/2023 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoài P: Ông Nguyễn Văn B, Luật sư của Trung Tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

  1. Mã Hoàng H, sinh ngày 28/02/1998; tại huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp R, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Ấp R, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mã Thành B1 (chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/7/2023 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Tah Thanh Z, sinh ngày 01/01/1988;

    Địa chỉ: Ấp U, xã I, huyện O, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

  2. Ông Phạm Ngọc Anh Tr, sinh ngày 24/9/1998

    Địa chỉ: Ấp F, xã J, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 20 phút, ngày 24/7/2023, tại ấp Q, thị trấn W, huyện W, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện W bắt quả tang Nguyễn Hoài P và Mã Hoàng H có hành vi cùng lúc bán trái phép chất ma túy cho Huỳnh Hữu Thọ và Trần Văn Hiệp. Tại thời điểm bắt quả tang, tại nhà của Nguyễn Hoài P còn có Phạm Ngọc Anh Tr và Tạ Thanh T, nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật là 01 bịch nylon đựng chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy để niêm phong gửi giám định và tạm giữ các đồ vật có liên quan.

Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Hoài P đã thừa nhận bản thân nghiện ma túy, thường xuyên mua ma túy về sử dụng và bán lại cho những người nghiện để kiếm lời, cụ thể: Nguyễn Hoài P có quen và biết người thanh niên tên Mến ở Thành phố Sóc Trăng (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) có bán ma túy nên thường xuyên mua ma túy của Mến về để sử dụng và bán lại. Còn đối với Mã Hoàng H là bà con của Nguyễn Hoài P, Mã Hoàng H kêu Nguyễn Hoài P bằng chú, khoảng 10 ngày trước khi bị bắt quả tang thì Mã Hoàng H đến nhà của Nguyễn Hoài P ở và cùng bán trái phép chất ma túy với Nguyễn Hoài P. Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 24/7/2023, Nguyễn Hoài P đến tiệm game bắn cá Sa – kê ở Thành phố Sóc Trăng thì gặp Mến và mua của Mến 500.000 đồng ma túy đá rồi đem về nhà cất giấu, chia nhỏ để bán lại cho người khác.

Trong ngày 24/7/2023 thì Nguyễn Hoài P và Mã Hoàng H đã bán ma tuý khoảng 04 lần cho người khác, cụ thể là: Vào khoảng 08 giờ ngày 24/7/2023 thì bán cho 01 nam thanh niên (không xác định được họ tên, địa chỉ) đến mua ma tuý với số tiền 200.000 đồng; Đến 16 giờ cùng ngày thì Nguyễn Hoài P đi công chuyện thì Mã Hoàng H ở nhà có bán ma tuý cho một nam thanh niên (không xác định được họ tên, địa chỉ) được 200.000 đồng, rồi khi Nguyễn Hoài P về thì Mã Hoàng H nói lại việc có bán ma túy đưa tiền cho Nguyễn Hoài P cất giữ; Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì có một nam thanh niên (không xác định được họ tên, địa chỉ) đến mua đứng ở ngoài cửa sổ mua ma tuý đá với số tiền 200.000 đồng; Đến khoảng 20 giờ 20 phút, ngày 24/7/2023 thì có Huỳnh Hữu Thọ và Trần Văn Hiệp chạy chung xe đến nhà Nguyễn Hoài P thì lúc này Mã Hoàng H mới ra cửa sổ xem thì Huỳnh Hữu Thọ và Trần Văn Hiệp mới hỏi mua ma túy đá với số tiền 200.000 đồng thì Mã Hoàng H mới nhận tiền 02 người này rồi đem để trên giường và nói với Nguyễn Hoài P lấy 200.000 đồng, Nguyễn Hoài P hiểu 02 người này cùng đến mua ma túy đá với số tiền là 200.000 đồng. Do ma túy Nguyễn Hoài P chưa phân sẵn nên Nguyễn Hoài P mới lấy bịch ma túy và các dụng cụ ra để trên giường ngủ trong khu vực nhà sau của Nguyễn Hoài P định phân ra để bán ma túy cho 02 người này thì lúc này có lực lượng Công an vào bắt quả tang và thu giữ các tang vật gồm ma túy và các dụng cụ dùng cho việc phân chia, mua bán và sử dụng ma túy của Nguyễn Hoài P và Mã Hoàng H. Quá trình điều tra đã xác định được trước ngày bị bắt quả tang thì Nguyễn Hoài P và Mã Hoàng H đã bán ma túy cho Trần Văn Hiệp và Huỳnh Hữu Thọ khoảng 05 lần; bán ma túy cho Lý Hoàng V, Lý Hoàng D khoảng 03 lần với mỗi lần bán khoảng 200.000 đồng ma túy, ngoài ra, Nguyễn Hoài P và Mã Hoàng H còn bán ma túy nhiều lần cho nhiều người khác nhưng không xác định được tên và địa chỉ cụ thể.

Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên, quá trình điều tra đã xác định được Nguyễn Hoài P còn có hành vi cung cấp ma túy cho Mã Hoàng H, Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr để sử dụng cùng lúc, cụ thể: Mã Hoàng H đến nhà Nguyễn Hoài P ở và bán ma túy cho Nguyễn Hoài P thì được Nguyễn Hoài P cho ăn ở và đưa ma túy cho sử dụng nhiều lần; đối với Tạ Thanh T và Phạm Ngọc Anh Tr là bạn bè thân thiết của Nguyễn Hoài P, biết Nguyễn Hoài P có ma túy nên đến sử dụng và được Nguyễn Hoài P cho sử dụng miễn phí, sau khi sử dụng thì thỉnh thoảng Tạ Thanh T và Phạm Ngọc Anh Tr cũng có đưa tiền cho Nguyễn Hoài P là 200.000 đồng. Cụ thể khi Mã Hoàng H, Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr đến thì Nguyễn Hoài P chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy gồm: cái nỏ bằng thủy tinh, chai nhựa, ống hút, hột quẹt gas, cung cấp ma túy và cùng sử dụng ma túy với Mã Hoàng H, Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr nhiều lần tại nhà của Nguyễn Hoài P. Vào chiều ngày 24/7/2023, trước khi bị bắt quả tang thì cũng như những lần trước đó, khi Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr đến nhà của Nguyễn Hoài P thì Nguyễn Hoài P cũng cung cấp ma túy cho Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr và Mã Hoàng Hiều để cùng sử dụng, sau khi sử dụng xong Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr ngồi ở nhà của Nguyễn Hoài P thì bị bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số: 120/KLGĐMT-KTHS, ngày 01/8/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng đã kết luận tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon được thu giữ trong quá trình bắt quả tang là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0, 3174gam.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện W, tỉnh Sóc Trăng đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện W quản lý các vật chứng gồm:

  • - Tạm giữ của Nguyễn Hoài P gồm:
    • + Ma túy Metthamphetamine, khối lượng 0,2852 gam sau giám định hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện W;
    • + Tiền Việt Nam là: 1.180.000 đồng;
    • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra thông số kỷ thuật bên trong;
    • + 01 (một) cân tiểu ly, màu đen, có in chữ Battey, kích thước (7,5 x 4) cm, còn hoạt động, đã qua sử dụng;
    • + 01 (một) cây kéo, bằng kim loại, màu trắng, dài 10 cm;
    • + 01 (một) cây kéo, bằng kim loại, màu trắng, dài 8,5 cm;
    • + 01 (một) đoạn ống hút, bằng nhựa, hàn kín một đầu, dài 8 cm;
    • + 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu vàng, dài 10 cm;
    • + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy có gắn nỏ thủy tinh và ông hút nhựa, màu đen, nấp bình màu đỏ;
    • + 01 (một) bọc Zip đường chỉ đỏ, kích thước (7 x 4,5) cm, đã qua sử dụng;
  • - Tạm giữ của Mã Hoàng H gồm:
    • + Tiền việt nam: 15.000 đồng;
    • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xanh-đen, đã qua sử dụng, còn hoạt động, không kiểm tra thông số kỷ thuật bên trong.
  • - Tạm giữ của Phạm Ngọc Anh Tr gồm:
    • 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu: Samsung, màu hồng nhạc, còn hoạt động, đã qua sử dụng, không kiểm tra thông số kỷ thuật bên trong.
  • - Tạm giữ của Tah Thanh Z gồm:
    • + Tiền việt nam: 192.000 đồng;
    • + 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu: Oppo, màu đen-tím, đã qua sử dụng, còn hoạt động, không kiểm tra thông số kỷ thuật bên trong. [BL 154–172]

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSMX ngày 20/02/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện W đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoài P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Mã Hoàng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Mã Hoàng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2, 5 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s và r khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Hoài P.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù; về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành 16 (mười sáu) năm đến 17 (mười bảy) năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mã Hoàng H.

+ Xử phạt bị cáo Mã Hoàng H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 và 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2, điêm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị hoặc không sử dụng được; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có, vật chứng có giá trị hoặc sử dụng được; trả lại tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng của vụ án.

- Án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoài P thuộc diện hộ cận nghèo, tại phiên tòa có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định và bị cáo Mã Hoàng H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoài P trình bày: Đồng ý tội danh, khung hình phạt và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng như Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Hoài P. Tuy nhiên, đề nghị Hồi đồng xét xử xem xét thêm bị cao là lao động chính, đang nuôi 02 con nhỏ nên giảm nhẹ cho bị cáo; bị cáo là hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung; đề nghị xử phạt bị cáo bị cáo mức hình phạt khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị.

* Bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu; không có ý kiến tranh luận; lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định vụ án:

[I] Về tố tụng:

  1. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Tah Thanh Z và ông Phạm Ngọc Anh Tr đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa lần hai nhưng vẫn vắng mặt; việc vắng mặt không ảnh hưởng hoặc gây trở ngại đến việc xét xử và đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
  2. Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành các hoạt động Điều tra, Truy tố đúng thẩm quyền, đúng theo trình tự thủ tục và quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H xác nhận trong quá trình tố tụng các cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định, nên các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại. Do vậy, các hoạt động Điều tra, Truy tố của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp và đúng luật định.

[II] Về nội dung:

  1. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố; xác nhận các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm là tự nguyện, đúng với hành vi khách quan mà các bị cáo đã thực hiện trong vụ án.
  2. Xét thấy, lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình điều tra thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai người có quyền và nghĩa vụ liên quan, với các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Vào lúc 20 giờ 20 phút, ngày 24/7/2023 tại ấp Q, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng, Công an huyện W bắt quả tang bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H có hành vi cùng lúc bán trái phép chất ma túy cho Huỳnh Hữu Thọ và Trần Văn Hiệp, thu giữ được 0,3174 gam ma túy (loại Methamphetamine) và các dụng cụ dùng cho việc phân chia, mua bán và sử dụng ma túy; số ma túy thu giữ bị cáo Nguyễn Hoài P thừa nhận của bị cáo mua về để chia nhỏ, cất giữ, tàng trữ nhằm mục đích để bán lại cho người nghiện kiếm tiền lời. Trong ngày 24/07/2023, trước khi bị bắt bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H đã bán ma túy cho 03 người (không xác định họ tên, địa chỉ) và đang bán ma túy cho Huỳnh Hữu Thọ, Trần Văn Hiệp thì bị bắt quả tang. Qua điều tra đã xác định trước đó bị cáo Nguyễn Hoài P và Mã Hoàng H đã bán ma túy cho Trần Văn Hiệp và Huỳnh Hữu Thọ 05 lần; bán ma túy cho Lý Hoàng Viễn và Lý Hoàng Dũng 03 lần; còn có bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không xác định được tên và địa chỉ cụ thể. Riêng bị cáo Nguyễn Hoài P do nghiện ma túy nên trước khi bị bắt còn có hành vi nhiều lần cung cấp ma túy, dụng cụ và địa điểm cho Mã Hoàng H, Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr là bạn đến cùng sử dụng ma túy chung, loại ma túy đá tại nhà của bị cáo Phương; trong ngày 24/07/2023, trước khi bị bắt bị cáo Phương, bị cáo Hiếu, T và Trung cùng sử dụng ma túy, sau khi sử dụng xong T và Trung vẫn ở lại nhà bị cáo Phương nên khi các bị cáo Phương và Hiếu bị bắt thì có mặt T và Trung.
  3. Bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H là người có có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được ma tuý là một vấn đề nhức nhối của xã hội, là hiểm họa của loài người, sử dụng ma túy nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ con người mà còn khiến cho nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt và bần cùng, là nguyên nhân của các mối bất hoà trong gia đình, nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác; gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự của đất nước nên các chất ma túy thuộc chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước; người nào có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép, chính là hành vi mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị.
  4. Mặc dù, các bị cáo nhận thức được điều này nhưng với bản chất không tôn trọng pháp luật và muốn có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài cho thỏa mãn nhu cầu bản thân nên bị cáo Nguyễn Hoài P cố ý thực hiện hành vi mua ma túy (loại Methamphetamine) về phân chia nhỏ, cất giấu, tàng trữ với khối lượng là 0,3174 gam để nhằm mục đích mua bán và trên thực tế các bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H đã cùng bán ma túy cho Trần Văn Hiệp và Huỳnh Hữu Thọ 06 lần (cả lần bị bắt); cho Lý Hoàng Viễn và Lý Hoàng Dũng 03 lần; còn bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không xác định được tên và địa chỉ cụ thể. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hoài P cũng nhận thức được người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều vi phạm pháp luật nhưng bị cáo Phương lại có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ và địa điểm cho Mã Hoàng H, Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Nguyễn Hoài P có đủ yêu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên các bị cáo có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự.
  5. Xét thấy, trong ngày 24/7/2023 bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho 03 người (không xác định họ tên, địa chỉ) và bán ma túy cho Huỳnh Hữu Thọ, Trần Văn Hiệp; trước đó đã bán ma túy cho Trần Văn Hiệp và Huỳnh Hữu Thọ 05 lần, bán ma túy cho Lý Hoàng Viễn và Lý Hoàng Dũng 03 lần, còn có bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không xác định được tên và địa chỉ cụ thể. Các lần bán trái phép chất ma túy của các bị cáo đều đủ yếu cấu thành cơ bản về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, các lần phạm tội chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên thuộc tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”. Đồng thời, trong lần phạm tội này các bị cáo vừa bán chất ma túy cho Huỳnh Hữu Thọ, vừa bán chất ma túy cho Trần Văn Hiệp nên thuộc tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên”. Đối với bị cáo Nguyễn Hoài P, có hành vi nhiều lần tổ chức cho Mã Hoàng H, Tạ Thanh T, Phạm Ngọc Anh Tr và bị cáo Phương cùng sử dụng trái phép ma túy tại nhà; các lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đều đủ yếu cấu thành cơ bản về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, các lần phạm tội cũng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và mỗi lần tổ chức có nhiều người sử dụng nên thuộc tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên”. Do đó, Cáo trạng số 11/CT-VKSMX ngày 20/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Nguyễn Hoài P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  6. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Đồng thời, tội phạm về ma túy nói chung, loại tội phạm về mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang có chiều hướng tăng, nó huỷ hoại tương lai, cuộc đời và sức khoẻ của nhiều người, nhiều gia đình, để nhằm răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội, đối với các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, các bị cáo phải chịu sự quản lý, giáo dục trực tiếp của cơ quan pháp luật, để các bị cáo có thời gian học tập, cải tạo để trở thành công dân tốt, có ích cho xã.
  7. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Hoài P có 02 tiền sự về hành vi đánh bạc và trộm cắp tài sản, bị Công an huyện W và Công an xã E xử phạt tiền nhưng chưa chấp hành, thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoài P là kém nên bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo Mã Hoàng H không tiền án, không tiền sự nên có nhân thân tốt.
  8. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với bị cáo Nguyễn Hoài P, Mã Hoàng H trong quá trình điều tra đã tự khai nhận thực hiện hành vi phạm tội các lần trước đó và các lần phạm tội này là do bị cáo tự khai, chứ không ai biết hoặc phát hiện nên bị cáo Nguyễn Hoài P và Mã Hoàng H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự thú” theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H là người có trình độ học vấn thấp (không biết chữ) nên các bị cáo hiểu biết pháp luật còn hạn chế đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, người bào chữa cho bị cáo Phương cho rằng bị cáo là lao động chính, đang nuôi 02 con nhỏ nên đề nghị xét giảm nhẹ cho bị cáo; tình tiết này không thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên người bào chữa đề nghị là không căn cứ. Do vậy, Kiểm sát viên để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trên và giảm nhẹ một phần hình phạt khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  9. Bị cáo Nguyễn Hoài P và bị cáo Mã Hoàng H cố ý cùng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên thuộc trường hợp đồng phạm, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Trong đó, bị cáo Nguyễn Hoài P là người trực tiếp đi mua ma túy, phân chia và cất giữ để bán cho các người nghiện; còn bị cáo Mã Hoàng H đến tham gia và có trực tiếp bán ma túy và nhận tiền từ các người mua để đưa lại cho Phương để được ăn, ở tại nhà Phương và sử dụng ma túy. Do đó, xét về tính chất vai trò của các bị cáo trong vụ án thì bị cáo Nguyễn Hoài P nguy hiểm hơn, nên cần xử lý bị cáo Nguyễn Hoài P nghiêm hơn bị cáo Mã Hoàng H là hợp lý và phù hợp với quy định của pháp luật.
  10. Từ những phân tích và nhận định trên, Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù và về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành 16 (mười sáu) năm đến 17 (mười bảy) năm tù. Xử phạt bị cáo Mã Hoàng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và đúng với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với bị cáo Nguyễn Hoài P là người thuộc diện hộ cận nghèo, xét về tình hình tài sản của bị cáo chưa đảm bảo để áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  11. Về xử lý vật chứng: Ma túy Metthamphetamine, khối lượng 0,2852 gam (sau giám định hoàn lại); 01 (một) cân tiểu ly, màu đen, có in chữ Battey, kích thước (7,5 x 4) cm, còn hoạt động, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo, bằng kim loại, màu trắng, dài 10 cm; 01 (một) cây kéo, bằng kim loại, màu trắng, dài 8,5 cm; 01 (một) đoạn ống hút, bằng nhựa, hàn kín một đầu, dài 8 cm; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu vàng, dài 10 cm; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy có gắn nỏ thủy tinh và ông hút nhựa, màu đen, nấp bình màu đỏ; 01 (một) bọc Zip đường chỉ đỏ, kích thước (7 x 4,5) cm, đã qua sử dụng đây là chất cấm lưu hành và là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  12. Đối với Tiền Việt Nam là: 1.180.000 đồng. Trong đó có 600.000 đồng tiền bán ma túy có được nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; số tiền còn lại 580.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu trắng, đã qua sử dụng đây là tài sản của bị cáo Phương nên trả lại bị cáo Nguyễn Hoài P.
  13. Đối với Tiền việt nam: 15.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xanh-đen, đã qua sử dụng đây là tài sản của bị cáo Hiếu nên trả lại bị cáo Mã Hoàng H.
  14. Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu hồng nhạt, còn hoạt động, đã qua sử dụng đây là tài sản của Phạm Ngọc Anh Tr nên trả lại cho Phạm Ngọc Anh Tr.
  15. Đối với Tiền việt nam: 192.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu đen-tím, đã qua sử dụng, còn hoạt động đây là tài sản của Tah Thanh Z nên trả lại cho Tah Thanh Z.
  16. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hoài P thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí. Buộc bị cáo Mã Hoàng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  17. Đối với những người nam thanh niên tên “Mến” bán ma túy cho Nguyễn Hoài P, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện W chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, nên chưa có cở sở để xử lý, khi nào xác định được sẽ xem xét xử lý sau.
  18. Đối với Tạ Thanh T và Phạm Ngọc Anh Tr thì mục đích đến nhà Nguyễn Hoài P để cùng sử dụng ma túy, qua điều tra không liên quan, giúp sức cho việc mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Hoài P và Mã Hoàng H, cũng như không có hành vi đồng phạm giúp sức trong việc tổ chức sử dụng trái phép ma túy mà là người thụ hưởng nên Cơ quan CSĐT đã chuyển Công an huyện W xem xét xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.
  19. Đối với Mã Hoàng H mặc dù là đồng phạm tham gia mua bán trái phép chất ma túy với bị cáo Nguyễn Hoài P nhưng đối với việc Nguyễn Hoài P tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì Mã Hoàng H chỉ là người thụ hưởng, không tham gia giúp sức nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý hình sự Mã Hoàng H về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
  20. Đối với Trần Văn Hiệp và Huỳnh Hữu Thọ thì mục đích mua ma túy là để sử dụng, qua điều tra chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự, nên Cơ quan CSĐT đã chuyển Công an huyện W xem xét xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Mã Hoàng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s và r khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Hoài P.
      • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
      • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
    2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); hình phạt chung bị cáo Nguyễn Hoài P phải thi hành là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, ngày 25 tháng 7 năm 2023.
    3. Áp dụng điểm điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mã Hoàng H.
      • - Xử phạt bị cáo Mã Hoàng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, ngày 25 tháng 7 năm 2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b và c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
    • - Tịch thu tiêu hủy: Ma túy Metthamphetamine, khối lượng 0,2852 gam sau giám định hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện W; + 01 (một) cân tiểu ly, màu đen, có in chữ Battey, kích thước (7,5 x 4) cm, còn hoạt động, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo, bằng kim loại, màu trắng, dài 10 cm; 01 (một) cây kéo, bằng kim loại, màu trắng, dài 8,5 cm; 01 (một) đoạn ống hút, bằng nhựa, hàn kín một đầu, dài 8 cm; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu vàng, dài 10 cm; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy có gắn nỏ thủy tinh và ông hút nhựa, màu đen, nấp bình màu đỏ; 01 (một) bọc Zip đường chỉ đỏ, kích thước (7 x 4,5) cm, đã qua sử dụng;
    • - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Hoài P số tiền 600.000 đồng (VND) để sung quỹ Nhà nước;
    • - Trả cho bị cáo Nguyễn Hoài P gồm: Tiền Việt Nam là 580.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra thông số kỷ thuật bên trong;
    • - Trả cho bị cáo Mã Hoàng H gồm: Tiền Việt Nam là 15.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xanh-đen, đã qua sử dụng, còn hoạt động, không kiểm tra thông số kỷ thuật bên trong;
    • - Trả cho Phạm Ngọc Anh Tr gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu hồng nhạt, còn hoạt động, đã qua sử dụng, không kiểm tra thông số kỷ thuật bên trong;
    • - Trả cho Tah Thanh Z gồm: Tiền Việt Nam là 192.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu đen-tím, đã qua sử dụng, còn hoạt động, không kiểm tra thông số kỷ thuật bên trong.

    (Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện W, tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2024).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hoài P thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí. Buộc bị cáo Mã Hoàng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kê từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại UBND nơi cư trú) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Công an tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện W;
  • - THA huyện W;
  • - CQ CSĐT-CA huyện W;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hùng Nuôi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN W, TỈNH SÓC TRĂNG về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN W, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger