|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUÂN Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 – 4 – 2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đăng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Bích – Bà Lương Thị Thạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 384/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023, về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đào Thị Hồng H, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Minh S, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 25-9-2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn – bà Đào Thị Hồng H thể hiện: Bà H và ông S chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65, đăng ký ngày 23/7/2015. Trong thời gian đầu chung sống vợ chồng không mấy hạnh phúc sau đó nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, cả hai không còn sống chung với nhau từ năm 2018. Bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn ông Trần Minh S.
Về con chung: Bà H và ông S có 01 người con chung tên Trần Minh Đ, sinh ngày 22/12/2015 (Giới tính N). Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn – ông Trần Minh S: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng ông S không chấp hành, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa. Tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông S vẫn vắng mặt không lý do.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp. Về nội dung: Quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị Hồng H, về nuôi con chung: Giao cháu Trần Minh Đ, sinh ngày 22/12/2015 (Giới tính N) cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: không có, đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự.
Về nội dung: [1] Quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Đào Thị Hồng H, xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S là hợp pháp, trong thời gian đầu chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp, không biết tôn trọng, nhường nhịn, thương yêu, chia sẽ, giúp đỡ lẫn nhau, hiện nay giữa bà H và ông S đã không còn chung sống với nhau. Qua kết quả xác minh tại địa phương cho thấy vợ chồng bà H và ông S xảy ra mâu thuẫn có thật, mức độ trầm trọng. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông S vắng mặt không lý do, bà H đề nghị giải quyết vắng mặt. Từ đó chứng tỏ giữa bà H và ông S không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không tồn tại. Vì vậy chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Nuôi con chung: Vợ chồng bà H và ông S có 01 người con chung tên Trần Minh Đ, sinh ngày 22/12/2015 (Giới tính N), khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con. Xét yêu cầu nuôi con của bà H nhận thấy, khi giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần phải đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, việc học hành và tinh thần. Từ khi bà H và ông S không còn sống chung với nhau thì cháu Đ ở cùng bà H và vẫn được bà H chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo, hơn nữa cháu S có nguyện vọng mong muốn được ở cùng mẹ. Vì vậy nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà H, giao cháu Trần Minh Đ cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.
Sau khi ly hôn, ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: không có, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Điều 21, 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Hồng H. Bà Đào Thị Hồng H được ly hôn ông Trần Minh S.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Minh Đ, sinh ngày 22/12/2015 (Giới tính N) cho bà Đào Thị Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, ông Trần Minh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Bà Đào Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002265 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi. Bà H đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các bên đương sự. Các bên đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA BÙI ĐĂNG |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HON, NUOI CON
