|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Huyện Tân Hiệp Tỉnh Kiên Giang |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HNGĐ- ST Ngày 24/04/2024 V/v xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Nhật
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Hồng Sơn
2. Ông Nguyễn Văn Bao
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Đỉnh – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2023 về vụ kiện: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn D, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: số 167, tổ 04, ấp P H, xã T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Kiều N, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: số 167, tổ 04, ấp P H, xã T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa ông Trương Văn D trình bày: Tôi và cô Huỳnh Thị Kiều N chung sống với nhau vào ngày 08 tháng 02 năm 1996, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 08 tháng 08 năm 1997. Trước khi chung sống tôi và bà N có quen biết và có tìm hiểu nhau 01 tháng và đi đến hôn nhân, hôn nhân tự nguyện không cưỡng ép.
Trong quá trình chung sống một thời gian vợ chồng rất hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà N bỏ nhà ra đi thường xuyên không lý do, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, tôi có khuyên bảo bà N nhiều lần nhưng bà N vẫn không thay đổi.
Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể hàn gắn.
Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung gồm:
- Trương Văn Hoàng N, sinh năm 1996
- Trương Thị Thuỷ T, sinh năm 2000
Hiện nay các cháu đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: không có
- Về phần nợ chung: không có
Tại phiên tòa ông D yêu cầu:
Về quan hệ hôn nhân: tôi xin được ly hôn với bà Huỳnh Thị Kiều N.
Về quan hệ con chung: các con đã trưởng thành.
Về quan hệ tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung; không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn bà Huỳnh Thị Kiều N trình bày: Tòa án đã tống đạt các văn bản cho bà Huỳnh Thị Kiều N theo quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa hôm nay bà N vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt không lý do tại phiên tòa hôm nay, do đó đã không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó căn cứ Điều 227, Điều 228 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 51, Điều 53, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn D.
Về quan hệ hôn nhân: ông Trương Văn D và bà Huỳnh Thị Kiều N được ly hôn.
Về quan hệ con chung: Các con đã trưởng thành.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc ông Trương Văn D phải chịu án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật. Ông D đã nộp đủ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ kiện Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015. Mặt khác đây là vụ kiện Ly hôn không có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015. Ngoài ra Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: bà Huỳnh Thị Kiều N với tư cách là bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay bà N vắng mặt không lý do, trước đó Tòa án đã tống đạt và tiến hành các thủ tục niêm yết theo quy định chung của Bộ luật tố tụng dân sự các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn bà Huỳnh Thị Kiều N, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt thì Tòa án tiến hành xử vắng mặt họ”. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị Kiều N là phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét lời yêu cầu của ông Trương Văn D về quan hệ hôn nhân, ông xin được ly hôn với bà Huỳnh Thị Kiều N là có cơ sở chấp nhận vì theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Xét thấy do tình trạng hôn nhân giữa ông D và bà N hiện đang rất trầm trọng, nguyên nhân là do bà N bỏ nhà ra đi thường xuyên không lý do, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, ông D có khuyên bảo bà N nhiều lần nhưng bà N vẫn không thay đổi. Từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy lời yêu cầu của ông D xin được ly hôn với bà N được Tòa án chấp thuận.
[4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Do ông D và bà N không có tài sản chung và nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp: Từ những nhận định trên. Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp là hoàn toàn phù hợp, có cơ sở chấp nhận theo đúng quy định của pháp luật.
[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông D phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0000350 ngày 20/06/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Ông D đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Văn D và bà Huỳnh Thị Kiều N được ly hôn.
2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc ông Trương Văn D nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000350 ngày 20/06/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Ông D đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đinh tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Báo cho ông Trương Văn D biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Báo cho bà Huỳnh Thị Kiều N biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Quang Nhật |
Bản án số 21/2024/HNGĐ- ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: ông Trương Văn D yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị Kiều N. Về quan hệ con chung: các con đã trưởng thành. Về quan hệ tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung; không có, không yêu cầu giải quyết.
