Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/DS - ST

Ngày: 22-4-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Ảnh

2. Ông Nguyễn Xuân Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án của TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 309/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2024/QĐXX-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-HPT ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Văn L. Sinh năm: 1977. Nơi ĐKHKTT: Ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Chổ ở hiện nay: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, vắng mặt có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T. Sinh năm: 1978.

Địa chỉ: Số E T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/9/2023 và bản tự khai ngày 07/12/2023 nguyên đơn ông Trương Văn L trình bày:

Do có nhu cầu mua đất và được biết bà Nguyễn Thị Thanh T có nhu cầu bán đất và ông L có nhu cầu mua đất để sử dụng nên ngày 31/5/2022 ông L và bà Nguyễn Thị Thanh T có ký Hợp đồng đặt cọc với nội dung bà T chuyển nhượng cho ông L diện tích đất 12.096m² thuộc thửa đất 517, tờ bản đồ số 17 tại địa chỉ : Ấp B. Xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước đã đước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 320273,số vào sổ CS00928 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 03/10/2019 đứng tên bà Nguyễn Thị Thanh T. Giá trị chuyển nhượng hai bên thoả thuận là 2.800.000.000đ. Ông L đã đặt cọc cho bà T nhận số tiền là 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) và thoả thuận 15 ngày (tức là đến ngày 14/6/2022) hai bên sẽ ra công chứng ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ông L sẽ giao số tiền còn lại cho bà T. Tuy nhiên, đến thời gian thoả thuận ra công chứng bà T báo với ông L là giấy tờ đất của bà T có vấn đề, bị trục trặc nên bà T không bán đất cho ông L nữa và sẽ trả lại tiền cọc và phạt cọc cho ông L nhưng bà T không thực hiện. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của mình ông L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết : Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả cho ông L số tiền cọc là 300.000.000đ, phạt cọc 300.000.000đ. Tổng cộng: 600.000.000đ(Sáu trăm triệu đồng y).

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T đã được Tòa án đã triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải và tham gia tố tụng tại phiên tòa, tuy nhiên bà T vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có ý kiến lưu tại hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Tại phiên tòa bị đơn – Bà Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do; nguyên đơn ông Trương Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vắng mặt các đương sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình và phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ theo các tài liệu và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả cho ông Trương Văn L số tiền cọc là 300.000.000đ, phạt cọc 300.000.000đ. Tổng cộng: 600.000.000đ(Sáu trăm triệu đồng y).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Ông Trương Văn L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thanh T trả số tiền 600.000.000đồng theo cam kết đặt cọc. Bị đơn bà T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại E T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng nên Tòa án nhân dân quận Hải Châu có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa phiên tòa nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Trương Văn L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét vử vắng mặt đương sự.

  2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    [2.1] Ông Trương Văn L và bà Nguyễn Thị Thanh T có thỏa thuận về việc chuyển nhượng diện tích 12.096m² thuộc thửa đất 517, tờ bản đồ số 17 tại địa chỉ : Ấp B. Xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 320273,số vào sổ CS00928 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 03/10/2019 đứng tên bà Nguyễn Thị Thanh T. Thỏa thuận này được ông L và bà T xác lập bằng Hợp đồng đặt cọc ngày 31/5/2022 thể hiện nội dung: Điều 2: Thoả thuận giá bán, chuyển nhượng: Tổng số tiền: 2.800.000.000đ. Bên B đặt cọc trước số tiền: 300.000.000đ...

    Điều 3: Thời hạn đặt cọc- thanh toán: Thời hạn đặt cọc là 15 ngày kể từ ngày 3/05/2022 đến hết....giờ, ngày 14/6/2022. Bên A nhận đủ tiền cọc sẽ cùng bên B làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi thủ tục công chứng hoàn tất, bên B phải giao đủ số tiền còn lại cho bên A...

    ...Sau khi hợp đồng được ký kết, quá thời hạn thoả thuận trên nếu bên A không bán, chuyển nhượng tài sản đặt cọc trên cho bên B thì bên A phải bồi thường cho bên B gấp 02 (hai) lần số tiền mà bên B đã đặt cọc cho bên A. Tổng số tiền hoàn trả và bồi thường = 600.000.000đ(Sáu trăm triệu đồng)...

    [2.2] Xét giao dịch đặt cọc giữa người đặt cọc là ông Trương Văn L với bên nhận tiền cọc là bà Nguyễn Thị Thanh T là giao dịch dân sự được giao kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên và phù hợp với các quy định của pháp luật nên có hiệu lực và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

    HĐXX căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Bình Phước cung cấp theo Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 309/2023/QĐ-CCTLCC ngày 06/11/2023 xác định bà Nguyễn Thị Thanh T đã được Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 320273, số vào sổ cấp GCN: CS 00928 ngày 03/10/2019 đối với thửa đất số 517, tờ bản đồ số 17. Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Đến thời điểm Toà án thu thập tài liệu chứng cứ thì thửa đất nêu trên vẫn chưa có thông tin chỉnh lý biến động. Do đó, lời khai của ông L về việc bà T vi phạm nghĩa vụ của người nhận cọc là có cơ sở.

  3. Về khoản tiền phạt cọc: Đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông L yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền phạt cọc là 300.000.000 đồng. Yêu cầu của ông Trương Văn L là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với thoả thuận của các bên thể hiện tại hợp đồng đặt cọc ngày 31/5/2022 nên cần buộc bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả cho ông Trương Văn L số tiền cọc: 300.000.000đ + tiền phạt cọc: 300.000.000đ. Tổng cộng: 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng y).
  4. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng bà T không thực hiện nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
  5. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, 35, 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 274, 275 và 328 Bộ luật dân sự

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn L đối với bà Nguyễn Thị Thanh T về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

  1. Tuyên xử: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả cho ông Trương Văn L số tiền cọc là 300.000.000đồng và tiền phạt cọc là 300.000.000 đồng. Tổng cộng: 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng y).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

  2. Về án phí DSST: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 14.000.000 (Mười bốn triệu đồng y).

    Ông Trương Văn L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Trương Văn L số tiền tạm ứng án phí 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng y) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001333 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi cư trú.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/DS - ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 21/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger