|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 8 - 2024
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Xuân Vinh
- Ông Mai Văn Chương
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Y - Sinh năm: 1985
- Bị đơn: Anh Trương Văn T - Sinh năm: 1986
Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình
Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình
Tại phiên toà, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Trương Thị Y trình bày:
Chị và anh Trương Văn T tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q (Nay là xã Q, thị xã B), tỉnh Quảng Bình vào ngày 12 tháng 02 năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, thậm chí anh T còn có biểu hiện quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Hiện tại, chị cảm thấy mình thật sự không còn tình cảm gì với anh T nữa nên nguyện vọng mong muốn được ly hôn với anh T để sớm ổn định cuộc sống của bản thân.
Về con chung, quá trình chung sống, chị và anh T có 03 con chung tên là Trương Nhật S, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2007; Trương Nhật A, sinh ngày 28 tháng 02 năm 2013 và Trương Nhật T1, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2015. Sau khi ly hôn, chị Y có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu anh T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi 03 con chung.
Về tài sản chung, chị và anh T tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai, bị đơn anh Trương Văn T trình bày:
Anh đồng ý, thống nhất với lời trình bày của chị Y về việc đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn, con chung và tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên anh cho rằng, mâu thuẫn giữa vợ chồng không có gì lớn, chưa đến mức trầm trọng. Nên việc chị Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh không đồng ý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trương Thị Y khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Trương Văn T. Anh T hiện nay đang có hộ khẩu thường trú tại xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Trương Văn T được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng đã có Đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vụ án vắng mặt anh Trương Văn T là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trương Thị Y và anh Trương Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án chị Y và anh T đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng trong thời gian chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra những cuộc cãi vã, bất đồng quan điểm. Tuy nhiên phía anh T không muốn ly hôn, vì cho rằng mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng. Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị Y xác định tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh T nữa. Tại phiên toà, chị Y vẫn kiên quyết xin được ly hôn với anh T. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị Y và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Trương Thị Y được ly hôn đối với anh Trương Văn T là phù hợp.
[2.2] Về quan hệ con chung:
Quá trình chung sống, chị Trương Thị Y và anh Trương Văn T có 03 con chung tên là Trương Nhật S, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2007; Trương Nhật A, sinh ngày 28 tháng 02 năm 2013 và Trương Nhật T1, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2015. Xét thấy, hiện tại anh T thường xuyên đi làm làm ăn xa, quá trình giải quyết vụ án, cả ba cháu đều đã có đơn trình bày nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ. Vì vậy xét nguyện vọng của chị Y được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung là hoàn toàn chính đáng và phù hợp, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao 03 con chung cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Anh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 03 con chung do chị Y không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung:
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Trương Thị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí:
Chị Trương Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Trương Văn T.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trương Thị Y, xử cho chị Trương Thị Y được ly hôn với anh Trương Văn T.
3. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Trương Thị Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung là Trương Nhật S, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2007; Trương Nhật A, sinh ngày 28 tháng 02 năm 2013 và Trương Nhật T1, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2015. Anh Trương Văn T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 03 con chung do chị Trương Thị Y không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
4. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị Trương Thị Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Trương Thị Y đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003338 ngày 24 tháng 5 năm 2024. Chị Trương Thị Y đã nộp đủ tiền án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Tình |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Yến - Trương Văn Trị
