TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày 20-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN .
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Kiên
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Kha Thị Thuần và ông Moong Văn Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài- Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Dũng- Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở UBND xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
+ Lô Văn H; Tên gọi khác: Không, sinh ngày: 20/9/1989, N sinh: huyện K, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: thôn 1, xã I, huyện H, tỉnh Kontum; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Văn H1(Đã chết) và bà Lô Thị H2- sinh năm: 1965; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Lô Văn H: Ông Nguyễn Văn H3- Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên toà.
Người chứng kiến: Anh Lô Văn T, sinh năm 1986
Địa chỉ: Bản X, xã M, huyện K, Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 08/3/2024, bị cáo Lô Văn H đi bộ từ bản Xiềng Tắm vào chơi tại bản Y đều thuộc xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An thì gặp 01 (một) người đàn ông không quen biết đang thả lưới tại sông N thuộc bản Y, xã M, huyện K. Bị cáo H hỏi người đàn ông đó có ma tuý bán không thì bán cho 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), với mục đích để sử dụng. Người đàn ông trả lời “có một ít". Lúc này, H đưa 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng cho người đàn ông kia để đi lấy ma tuý. Sau đó, người đàn ông trở lại đưa cho H 01 (một) gói polylen màu trắng bên trong có chứa heroin. H lấy một ít ra sử dụng tại chỗ rồi gói lại mang về nhà. Đến khoảng 07 giờ 30 ngày 09/3/2024, H tiếp tục lấy một ít heroin ra sử dụng, số còn lại Hoàng gói lại vào tờ giấy có ghi chữ nước ngoài, rồi cầm trong lòng bàn tay trái. Sau đó, H đị bộ vào bản X, xã M, huyện K để chơi. Đến 08 giờ 00 phút cùng ngày, khi H đang đi bộ trong bản Xiềng Tắm thì bị tổ công tác Công an huyện K phát hiện, thu giữ 01 (một) gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện K bị cáo Lô Văn H đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 316/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn H gửi tới giám định là ma túy loại Heroine.
Về vật chứng của vụ án:
- Số ma túy; loại Heroine (H) là vật chứng còn lại thu giữ của Lô Văn H có khối lượng 0,15 gam (Không phẩy mười lăm gam), lấy 0,05 gam (Không phẩy không năm gam) gửi giám định, còn lại 0,1 gam (Không phẩy một gam) niêm phong lại theo quy định.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kỳ Sơn giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như bản cáo trạng số 22/CT- VKS- KS ngày 28/05/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:
2
- Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lô Văn H từ 12(Mười hai) đến 15(Mười lăm) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư màu trắng, phía trên bên trái có dòng chữ “Công an tỉnh N- Công an huyện K”, không bị rách nát, hư hỏng, đang niêm phong, dán kín. Trên mép có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Lô Văn H. Bên trong có chứa số ma túy còn lại 0,1 gam (Không phẩy một gam) niêm phong lại theo quy định.
Về án phí: + Bị cáo Lô Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Người bào chữa cho bị cáo Lô Văn H trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo lần đầu phạm tội, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện V đã đề nghị, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xin miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến gì thêm và đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận, người bào chữa cho bị cáo không có tranh luận gì mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành
3
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên toà, bị cáo Lô Văn H đề nghị Trợ giúp viên Nhà nước thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N bào chữa cho bị cáo và tại phiên toà người bào chữa đồng ý bào chữa cho bị cáo Lô Văn H là đúng quy định của pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào 08 giờ 00 phút ngày 09/3/2024, tại bản X, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang Lô Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,15 gam (Không phẩy mười lăm gam) ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình, với hành vi tàng trữ 0,15g ma tuý heroin đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng quy định pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:
- Về hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo nghiêm trọng, đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm hại trật tự an toàn xã hội. Ma tuý đã huỷ hoại đời sống con người, làm xói mòn các giá trị văn hoá gia đình, đạo đức xã hội và là nguồn gốc, nguyên nhân, tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm, do đó bị cáo phải bị nghiêm trị theo pháp luật và phải chịu hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi đã thực hiện. Vì
4
vậy cần lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa.
- Về tình tiết tăng nặng: + Bị cáo Lô Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3].Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo không có tài sản gì lớn, là đối tượng nghiện ma tuý, thuộc trường hợp khó khăn vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[4]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lô Văn H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành xác minh, tra cứu nhưng chưa có kết quả. Khi nào xác định được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật
[5].Về vật chứng: - Số ma túy (H) thu giữ của bị cáo sau khi trích mẫu để gửi giám định thì còn lại còn lại 0,1 gam (Không phẩy một gam). Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về án phí: Bị cáo là đối tượng sinh ra và lớn lên tại xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An là địa bàn khó khăn, tuy nhiên hiện nay bị cáo có nơi cư trú ở địa phương khác không thuộc vùng khó khăn vì vậy cần áp dụng áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lô Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tại phiên toà và việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
5
- Tuyên bố: Bị cáo Lô Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lô Văn H 13(Mười ba)tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giữ, tạm giam (Tức là ngày 09/3/2024).
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam (Không phẩy một gam) heroin và các vỏ bao bì niêm phong ban đầu được niêm phong lại bằng 01 (một) phong bì thư bưu điện viền xanh đỏ dán kín, trên mép dán có chữ ký của Lô Văn H và hội đồng tham gia niêm phong. (Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn ngày 30/5/2024).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lô Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán- Chủ toạ phiên toà Phan Văn Kiên |
6
7
8
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lô Văn Hoàng phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
