Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 19-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

Bà Phạm Thị Bích Ngọc

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Văn T, sinh ngày 18/01/1996 tại Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi ở: Số G N, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B và bà Đoàn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 23/9/2024; tạm giam ngày 02/10/2024; có mặt.
  2. Lương Văn K, sinh ngày 09/3/1996 tại Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi ở: Số G N, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn  và bà Lương Thị V; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 23/9/2024; tạm giam ngày 02/10/2024; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn K: Bà Nguyễn Thị Hồng T1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung Tâm trợ giúp pháp lý thành phố H; địa chỉ: Số A L, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h00' ngày 23/9/2024, Tổ công tác - Công an phường T, quận L, thành phố Hải Phòng trong khi làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đầu ngõ H T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng phát hiện Lương Văn K có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ dưới đất ngay sát mũi bàn chân phải của K 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng, viền mép đỏ kích thước 04cm x 07cm chứa chất bột dạng cục nghi là ma tuý. Tổ công tác đã đưa K cùng vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của K 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu “REALME” màu đen đã qua sử dụng và số tiền 113.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Văn K khai: Khoảng 11h00' ngày 23/9/2024, Hoàng Văn T đi xe mô tô Future mang BKS 16H5-2428 và rủ K chở ra bến xe V, quận L, thành phố Hải Phòng để T về quê, còn K sẽ điều khiển xe mô tô quay về, K đồng ý. T điều khiển xe mô tô, chở K đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng. Trên đường đi, T đưa cho K 300.000 đồng rồi bảo tiền này để lấy “hàng”. Do cùng nghiện ma túy, nên K hiểu T đưa tiền để mua ma tuý H1 sử dụng. Tại khu vực chắn tàu Trần Nguyên H2, quận L và T gặp 01 nam giới không quen biết. T hỏi người nam giới “có lấy được hàng không?”, K hiểu T đang hỏi người nam giới có mua được ma tuý không? Người nam giới trả lời “có, một thằng lên xe tao chở đi lấy”. Lúc này, T bảo K đi theo người nam giới còn T đứng đợi tại khu vực đường T, quận L. Người nam giới chở K vào ngõ H T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng được khoảng 50m thì dừng xe bảo K đứng chờ. Khải đưa 300.000 đồng cho người nam giới, người này nhận tiền rồi đi sâu vào trong ngõ khuất tầm nhìn của K. Khoảng vài phút sau quay lại đưa cho K 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. K cầm vỏ bao thuốc lá ở tay phải rồi đi về đến khu vực đầu ngõ H T, phường T thì bị Tổ công tác - Công an phường T, quận L, thành phố Hải Phòng kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Lương Văn K, Công an phường T, quận L đã kết hợp cùng Công an phường C, quận L, thành phố Hải Phòng tiến hành rà soát khu vực đường T phát hiện Hoàng Văn T có đặc điểm nhận dạng và phương tiện giống lời khai của K. Tổ công tác đã đưa Hoàng Văn T về trụ sở Công an phường T, quận L để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T khai: Khoảng 11h45' ngày 23/9/2024, Hoàng Văn T2 mượn 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Future BKS 16H5-2428 của anh Bùi Bá T3, sinh năm 1982; trú tại: Khu Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng (là chủ nơi T làm việc). Sau đó, T đi đến gặp và nhờ Lương Văn K (là người làm cùng xưởng sản xuất đá sạch của anh Bùi Bá T3) chở ra bến xe V, quận L, thành phố Hải Phòng để T về quê, rồi K đi xe mô tô về trả cho anh T3. Trên đường đi, T nảy sinh ý định mua ma túy Heroine để mang về sử dụng cho bản thân, nên T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng và đưa cho K 300.000 đồng bảo “tiền này để lấy hàng” (ý của T là để mua ma túy). Tại khu vực chắn tàu T, quận L, T và K gặp 01 nam giới không quen biết. T hỏi người nam giới “có lấy được hàng không?”. Người nam giới trả lời “có, một thằng lên xe tao chở đi lấy”. Lúc này, T bảo K đi theo người nam giới còn T đứng đợi tại khu vực đường T. K lên xe theo người này đi đâu không rõ. Trong lúc ngồi đợi K có lực lượng Công an đến và mời T về trụ sở Công an phường T, quận L để làm việc.

Ngày 23/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn T. T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 xe mô tô BKS 16H5-2428 và số tiền 2.290.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 1105/KLGĐ-MT ngày 27/9/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn K là ma túy, có khối lượng 0,15 gam, là loại Heroine.

Đối với người nam giới bán ma túy cho Lương Văn K, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L có cơ sở để điều tra, xử lý.

Bản Cáo trạng số 17/CT-VKSLC ngày 13/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Hoàng Văn T, Lương Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có quan điểm: Qua xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của các bị cáo, lời khai của người chứng kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố Hoàng Văn T, Lương Văn K theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Hoàng Văn T, Lương Văn K với mức hình phạt từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù.

Xét điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 phong bì niêm phong số 1105MT/PC09 chứa ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy;
  • - Đối với 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng và số tiền 113.000 đồng thu giữ của bị cáo Lương Văn K; 01 điện thoại di động Iphone và số tiền 2.290.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T đều không liên quan đến hành vi phạm tội, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho các bị cáo.
  • - Đối với xe mô tô nhãn hiệu Future mang BKS 16H5-2428, kết quả điều tra xác định là của anh Bùi Bá T3. Anh T3 không biết T sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Bùi Bá T3.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác:

Đối với Hoàng Văn T là người dân tộc thiểu số, nhưng do không phải hộ nghèo hoặc sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật, nên không thuộc diện đối tượng trợ giúp pháp lý.

Đối với Lương Văn K là người dân tộc thiểu số, địa phương xác nhận hộ cận nghèo, nên theo quy định của pháp luật thuộc diện đối tượng trợ giúp pháp lý. Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Lương Văn K có quan điểm đồng nhất với quan điểm truy tố của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân về tội danh, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và xử lý vật chứng trong vụ án. Tuy nhiên, cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình của bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng hình phạt thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có điều kiện cải tạo sớm trở về xã hội và gia đình. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí do bị cáo là người dân tộc Tày, thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

- Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

[2] Xét lời khai về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người chứng kiến; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 1105/KLGĐ-MT ngày 27/9/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H; các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án thể hiện: Vào khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 23/9/2024, tại khu vực ngõ H T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng, các bị cáo Hoàng Văn T, Lương Văn K đã có hành vi cất giữ trái phép ma túy có khối lượng 0,15 gam Heroine với mục đích mang về sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường A, quận L, thành phố Hải Phòng bắt quả tang.

Từ nội dung vụ việc và những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố để xét xử các bị cáo Hoàng Văn T, Lương Văn K đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Đánh giá vai trò của các bị cáo:

[3] Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo Hoàng Văn T, Lương Văn K được xác định không có sự bàn bạc từ trước. Bị cáo Hoàng Văn T không trực tiếp mua ma túy, nhưng là người đề xuất, đưa tiền cho Lương Văn K nhờ mua ma túy. Lương Văn K là người chủ động, trực tiếp thực hiện hành vi mua ma túy, nên Hội đồng xét xử đánh giá các bị cáo Hoàng Văn T, Lương Văn K đồng phạm về hành vi “Tàng trừ trái phép chất ma túy” với hình thức đồng phạm giản đơn và có vai trò chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau khi áp dụng hình phạt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Hoàng Văn T, Lương Văn K là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế, nên Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt áp dụng:

[6] Xét tội phạm mà các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy với lỗi cố ý. Trên cơ sở đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt theo mức đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Buộc các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn, không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng và trên quan điểm Viện Kiểm sát đề nghị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  • [8] Đối với 01 phong bì niêm phong số 1105MT/PC09 chứa khối lượng ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vỏ bao gói đựng ma túy là vật không có giá trị, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
  • [9] Đối với 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng và số tiền 113.000 đồng thu giữ của bị cáo Lương Văn K; 01 điện thoại di động Iphone và số tiền 2.290.000 đồng thu giữ của bị cáo Hoàng Văn T đều là tài sản thuộc sở hữu của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho các bị cáo.

- Về án phí:

[10] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo Lương Văn K là dân tộc thiểu số, thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Lương Văn K được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Về quyền kháng cáo:

[11] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn T, Lương Văn K.

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Lương Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt:

  1. Bị cáo Hoàng Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.
  2. Bị cáo Lương Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1105MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
  • + Trả lại cho bị cáo Lương Văn K 01 điện thoại di động Realme, màu đen đã qua sử dụng có số IMEI: 860666055327990/01 và số tiền 113.000 đồng (Một trăm mười ba nghìn đồng.
  • + Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 điện thoại di động Iphone, màu đen đã qua sử dụng có số IMEI: 353047090841176 và số tiền 2.290.000 đồng (Hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng), nhưng tạm giữ số tiền 2.290.000 đồng (Hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí.

(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và Ủy nhiệm chi số 07.2025/QĐ-CALC(HTTP) ngày 15/01/2025 của Kho bạc Nhà nước L; Ủy nhiệm chi số 08.2025/QĐ-CALC(HTTP) ngày 15/01/2025 của Kho bạc Nhà nước L).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • + Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn K.
  • + Bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - PV06, PC10-Công an TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT-Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS quận Lê Chân;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - UBND xã/phường nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đức Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn K - Hoàng Văn T tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger