|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:21/2024/HNGĐ-ST Ngày 17/11/2023. V/v: Ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI – TỈNH HÒA BÌNH
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Mai Linh.
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Quách Đình Hạnh
Bà Vũ Thị Minh Phương
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Mạnh Thuyền – Thư ký tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Lương – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 84/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 09 năm 2023, về việc : Ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị M, sinh năm 1996. Vắng mặt
- Bị đơn: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1994. Vắng mặt
Cùng ĐKHKTT : xóm M, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn chị Bùi Thị M trình bày:
Tôi và anh Bùi Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình vào ngày 03/06/2013. Sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng diễn ra bình thường, hạnh phúc nhưng khoảng 1 năm sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nguyên nhân do anh C mải chơi không chịu làm ăn, chăm lo cho gia đình vợ con mặc dù đã được khuyên bảo nhưng anh C không thay đổi. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Vì vậy tôi làm đơn xin ly hôn anh C.
- Về con chung : Có 03 con là Bùi Xuân T sinh ngày 15/5/2013, Bùi Thị Kiều T1 sinh ngày 17/02/2016 và Bùi Thị Bảo C1 sinh ngày 07/10/2017. Khi ly hôn tôi xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
1
- Về tài sản chung, công sức đóng góp: Không có
- Về công nợ chung : Tôi cam đoan vợ chồng không có công nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập hợp lệ anh C đến Tòa làm việc nhưng aanh C đều vắng mặt không đến Tòa để trình bày ý kiến của mình. Vì vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật đồng thời tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình anh C. Kết quả xác minh cho thấy :
Chị Bùi Thị M và anh Bùi Văn C là công dân cư trú tại xóm M, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Sau khi cưới chị M về nhà anh C làm dâu. Gia đình và địa phương không nắm rõ mâu thuẫn cụ thể giữa vợ chồng anh chị nhưng chị M đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ năm 2018 đến nay, gia đình đã khuyên bảo nhưng vợ chồng không về đoàn tụ mà vẫn mỗi người một nơi. Gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và cũng có gọi điện thông báo cho anh C biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết đơn xin ly hôn của chị M. Tuy nhiên hiện nay anh C đang đi làm ăn xa chỉ thi thoảng mới về thăm nhà nhưng cũng không thông báo rõ địa chỉ cụ thể cho gia đình và chính quyền địa phương biết. Anh C có nhắn lại với gia đình quan điểm của anh là giữ người ở chứ không giữ người đi, chị M muốn ly hôn tùy chị M quyết định, vì công việc bận nên anh không thu xếp đến Tòa được mà đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt. Về con chung đề nghị Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.
Do vụ án không tiến hành hòa giải được nên phải đưa ra xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
- Về tố tụng : Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án : Mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị M và anh Bùi Văn C đã lâu và trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị được ly hôn anh C
- - Về con chung: Đề nghị giao cả 03 con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng.
- - Về tài sản chung và công nợ chung: Không có.
- - Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự không có ý kiến
2
hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.
Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân gia đình cụ thể là về việc ly hôn. Bị đơn anh Bùi Văn C có nơi cư trú tại huyện K, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để ghi lời khai, trình bày ý kiến, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do. Tòa án đã xác minh tại gia đình và nơi cư trú của bị đơn, tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, đồng thời nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2].Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị M và anh Bùi Văn C khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình vào ngày 3/6/2013. Do vậy hôn nhân giữa chị M và anh C được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và thường xuyên cãi nhau. Gia đình đã nhiều lần khuyên can, hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được, chị M đã bỏ về nhà ngoại ở từ năm 2018, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong suốt thời gian sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Nay chị M xin ly hôn, gia đình có liên lạc thông báo cho anh C biết, anh C nhắn lại do công việc bận không thu xếp đến Tòa án được, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị M và anh C đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Mặt khác, anh C biết chị M nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án để thể hiện ý kiến của mình, điều này chứng tỏ anh C cũng không mong muốn được hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M để giải phóng cho chị.
Về con chung: Có 03 con là Bùi Xuân T sinh ngày 15/5/2013, Bùi Thị Kiều T1 sinh ngày 17/02/2016 và Bùi Thị Bảo C1 sinh ngày 07/10/2017. Khi ly hôn chị M xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Xét các cháu còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ hơn, hiện anh C đi làm ăn xa vắng mặt tại địa phương. Để đảm bảo quyền lợi cũng như ổn định cuộc sống của các cháu, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình cần giao cả 03 con chung cho chị M trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp.
Anh C có quyền thăm nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M chưa yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Tài sản chung và công sức đóng góp: Không có.
Công nợ chung: Không có.
3
[3]. Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ : Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị M, xử cho chị Bùi Thị M được ly hôn anh Bùi Văn C.
2. Về con chung: Giao 03 con chung là Bùi Xuân T sinh ngày 15/5/2013, Bùi Thị Kiều T1 sinh ngày 17/02/2016 và Bùi Thị Bảo C1 sinh ngày 07/10/2017 cho chị Bùi Thị M trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị M chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
3.Tài sản chung, công sức đóng góp : Không có
4.Về công nợ chung : Không có.
5. Án phí: Chị Bùi Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005649 ngày 05/09/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị M và anh Bùi Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Mai Linh |
4
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BÙI THỊ M LY HÔN BÙI VĂN C
